Bài 38: Con Chó Dữ và Sợi Dây Xích


Nếu: 

Con chó dữ = người có khuynh hướng làm ác

Sợi dây xích = tôn giáo (với những hứa hẹn và đe dọa ngăn cản không cho con người làm ác).

Quan điểm "dùng sợi dây xích để cột con chó dữ lại cho đến khi nào nó được huấn luyện thuần thục rồi sẽ thả ra" có cái lý của nó.

Tuy nhiên, cần phải thấy rằng sợi dây xích không có khả năng để huấn luyện con chó dữ trở thành thuần thục. Sợi dây xích chỉ có khả năng cột giữ con chó lại một chỗ mà thôi. Tôn giáo cũng vậy, những lời hứa hẹn và đe dọa của tôn giáo chỉ có thể ngăn cản (một phần nào) không cho người ta làm điều ác mà thôi. Tôn giáo không phải là một phương cách hữu hiệu để biến cải những người có khuynh hướng hay bản tính làm ác. Ai cũng thấy trên đời xưa nay có vô số thí dụ về các tín đồ sùng đạo triệt để, các bậc tu hành cao cả vẫn phạm đủ loại tội ác kinh khiếp nhất; bất cứ trong tôn giáo nào.

Có vô số những con chó khác bản tính hiền thục cũng bị cột cổ bằng những sợi dây xích như vậy. Những con chó nầy dù có bị xích hay không thì chúng cũng không có khuynh hướng cắn người. Tương tự, có vô số người bản chất hiển hòa sinh ra đã bị cha mẹ tròng vào cổ một tôn giáo. Đối với những người nầy thì dù có hay không có những lời hứa hẹn hay đe dọa trong tôn giáo, bản chất hướng thiện của họ cũng vẫn không cho phép họ làm hại người khác.

Phương thuốc dùng sợi dây xích để cột giữ con chó có vài phản ứng phụ nghiêm trọng.

Thứ nhất, với sợi dây xích cột chặt vào cổ, con chó có thể bị người chủ điều khiển, áp chế, sử dụng cách nào cũng được. Họ có thể cột nó ở chỗ nào họ muốn; họ có thể bắt nó làm trò tiêu khiển hay giữ nhà cho họ; họ có thể thâu ngắn lại hay nới lỏng dây sợi xích ra tùy theo nhu cầu của họ. Nhiều nhà cầm quyền, giáo hội, tu sĩ, tăng lữ xưa nay hiểu biết rất rõ điều nầy.

Thứ hai, con chó dữ bị cột lâu ngày ngược với bản tính tự nhiên của nó sẽ bị đè nén về nhiều mặt tâm sinh lý. Tuy sợi dây xích ngăn cản không cho nó đi đâu xa hay cắn người được nhưng nó vẫn sẽ tìm cách để giải tỏa các đè nén trên bằng cách nầy hay cách khác. Nó có thể đào phá sân cỏ, cắn gặm những cây cối, vật dụng nằm trong phạm vi nó có thể vói tới. Nạn ấu dâm tràn lan trong Công Giáo là một thí dụ điển hình.

Thứ ba, con chó dữ khi nằm trong phạm vi sợi dây xích của nó có thể có vẻ rất hiền ngoan. Nhiều người lầm lẫn cho rằng cái bề ngoài hiền ngoan nầy là bản chất thật sự của nó. Khi họ bước đến gần con chó mà không đề phòng, nó sẽ không ngần ngại để cắn họ. Có bao nhiêu người đã than vản các câu tương tự "tôi không ngờ ông ấy tu hành đức độ như vậy mà làm những chuyện ác độc đó hãm hại tôi!"?

Thứ tư, khi đã bị cột cổ bằng sợi dây xích lâu ngày thì con chó nghĩ rằng sợi dây xích là vật sỡ hữu quý báu của nó. Nếu một người lạ vì lý do gì đó đụng chạm vào sợi dây xích nầy thì con chó sẽ lập tức hùng hỗ cắn sủa người ấy. Tín đồ cũng vậy; có thể thấy vô số thí dụ ngoài đời và không ít ngay trong diễn đàn nầy.

Bài 37: Đừng Tiêu Diệt Tôn Giáo, Dù Nếu Có Thể

Hỏi: Anh đã xác định là không bao giờ có thể tiêu diệt tôn giáo được. Nhưng theo anh thì có nên tiêu diệt tôn giáo hay không?

Đáp: Theo tôi thì không.

Hỏi: Tại sao?

Đáp: Vì ngoài cái ích lợi như đã nói của tôn giáo là trấn an và xoa dịu nỗi đau khổ của con người, tôn giáo còn có giá trị trong việc gìn giữ an ninh trật tự và ổn định của xã hội.

Hỏi: Ý anh muốn nói đó là tại sao giới cầm quyền, ngay cả những nhà độc tài vô thần, xưa nay có khuynh hướng dung dưỡng tôn giáo?

Đáp: Không hẳn. Tôi nói ở đây là dưới cái nhìn của một người thường dân: tôi nhận thấy tôn giáo góp phần không nhỏ vào an ninh trật tự và ổn định của xã hội cần thiết cho chính tôi. Các nhà cầm quyền cũng dùng tôn giáo để gìn giữ an ninh trật tự và ổn định của xã hội, tuy nhiên đã có không ít nhà cầm quyền dùng tôn giáo để điều khiển, cai trị và đàn áp.

Hỏi: Xin anh giải thích thêm về “tôn giáo góp phần không nhỏ vào an ninh trật tự và ổn định của xã hội cần thiết” cho chính anh.

Đáp: Trong bất cứ xã hội nào cũng có một số người có khuynh hướng không ngần ngại cướp bóc, hãm hại, lường gạt, v.v. kẻ khác để làm lợi cho họ. Nhà cầm quyền đóng vai trò chính trong việc gìn giữ an ninh trật tự. Nhờ có nhà cầm quyền, và luật pháp, mà những hành vi trên được hạn chế. Tuy nhiên, nhà cầm quyền chỉ có thể đối phó với một số hữu hạn những người xấu, kẻ ác. Cảnh sát không thể có mặt tất cả mọi lúc ở tất cả mọi nơi. Trong khi đó các thần linh và thượng đế có thể.

Hỏi: Anh muốn nói thần linh và thượng đế trong tôn giáo đóng vai trò cảnh sát cho xã hội?

Đáp: Đúng vậy. Nhìn vào Kinh Thánh của Thiên Chúa Giáo sẽ thấy đầy những lời răn dạy kèm theo những hình phạt ghê gớm nhất. Ngay cả trong Phật Giáo cũng vậy, tuy lý thuyết Phật Giáo không chủ trương điều nầy nhưng đại đa số tín đồ vẫn được giáo dục theo lối “làm điều thiện sẽ gặp việc thiện, làm điều ác sẽ bị quả báo gặp việc ác”. Chính nhờ những câu răn dạy và hăm dọa loại nầy mà vô số các tội ác trên đời có thể xảy ra đã không xảy ra.

Hỏi: Anh cho rằng người ta thật sự tin và sợ những lời hăm dọa nầy?

Đáp: Những đứa trẻ được cha mẹ nhồi vào đầu óc ngây thơ của chúng từ khi còn nhỏ về điều nầy thì rất ít khi chúng không chịu ảnh hưởng sâu đậm. Khi lớn lên họ có thể nghi ngờ nhưng vẫn sẽ ít nhiều tin và sợ những lời hăm dọa nầy. Một người nếu có khuynh hướng hay ý định làm hại kẻ khác thì họ cũng ngần ngại trước thực hiện những việc được định nghĩa là “ác”. Mặc dù không còn trong vòng kềm tỏa của cha mẹ nữa, mặc dù không có mặt của nhà cầm quyền nào cả nhưng họ vẫn sợ Thiên Chúa, sợ luật Nhân Quả, v.v. Việc “sợ” nầy ngăn cản không cho người ta phạm tội ác.

Hỏi: Nhưng như vậy không phải là tôn giáo rất có ích lợi vì nó đem đến giá trị luân lý, đạo đức cho xã hội hay sao?

Đáp: Tôi đồng ý tôn giáo có “ích lợi” cho xã hội. Nhưng tôi không nghĩ là tôn giáo mang giá trị luân lý, đạo đức đến cho xã hội.

Hỏi: Tại sao?

Đáp: Nếu một người không làm điều xấu chỉ vì tin vào những lời hăm dọa trong tôn giáo và sợ sẽ phải chịu những hình phạt thì đó làm sao gọi là luân lý hay đạo đức được? Một con chó dữ bị xiềng bởi một sợi dây xích dài 4m chẳng hạn; khi một đứa bé đứng cách 4.5m trêu chọc nó mà nó không chồm lại cắn đứa bé chỉ vì nó biết rằng sợi dây xích sẽ ngăn cản nó làm chuyện ấy thì có thể nào gọi nó là một con chó “hiền” hay không?

Hỏi: Nhưng nếu không có cách nào khác tốt hơn để giữ con chó đừng cắn đứa bé thì phải làm sao?

Đáp: Đó là tại sao tôi nghĩ rằng không nên tiêu diệt tôn giáo, dù có thể. Có lý thuyết cho rằng những tín đồ càng sùng đạo là những người càng có bản chất yếu đuối về mặt tinh thần. Nếu họ thuộc vào thành phần những người có khuynh hướng hãm hại người khác (như đã đề cập ở trên) thì họ luôn cần phải nương tựa vào một cái gì đó, một đấng thiêng liêng hay một con cừu đầu đàn, để nhắc nhở và gìn giữ họ khỏi phạm những điều mà chính họ cũng biết rằng hư xấu. Bởi vậy một ngày đẹp trời nào đó nếu có phép mầu xảy ra (!!) mà mọi tôn giáo đều bị tiêu diệt thì lấy gì để kềm chế những tín đồ trên khỏi nổi loạn làm đảo lộn trật tự an ninh trong xã hội?

Hỏi: Anh có cho rằng tín đồ là những người có bản chất yếu đuối về tinh thần hay không?

Đáp: Tôi nghĩ đa số họ là những người dễ tin.

Bài 36: Đàn Cừu

Có người cho rằng với những quan điểm của tôi về tôn giáo như vầy thì tôi luôn luôn sẽ là người đơn độc.

Một ngày nọ tôi xem phim tài liệu về những đàn cừu của dân du mục trên các cánh đồng hoang ở Siberia.

Chúng chen chúc, dựa lấn lẫn nhau, lấm la lấm lét, luôn luôn sợ sệt không con nào muốn đứng ở gần ngoài bìa cả. Trong đầu chúng, lúc nào cũng lởn vởn các răng nanh nhọn đâu đó của những con sói dữ vô hình. Trên đầu chúng, mây trắng nuột giữa bầu trời xanh biếc.

Nhưng dĩ nhiên là đàn cừu không thể nào có tâm trí, và khả năng, thưởng lãm được cái đẹp thiên nhiên tuyệt vời của những cánh đồng hoang nầy.

Bài 35: Tại Sao Không Bao Giờ Tiêu Diệt Được Tôn Giáo?


Vài lý do chính tại sao không bao giờ tiêu diệt được tôn giáo: 
 
-        Nhu cầu tín ngưỡng của con người mãnh liệt không kém những nhu cầu tự nhiên cơ bản khác. Mãnh liệt vì tối cần thiết cho quá trình tiến hóa và sống còn của họ.
-        Đa số tín đồ không thể phân biệt được tín ngưỡng là một nhu cầu trong khi tôn giáo là một phương tiện để thỏa mãn nhu cầu đó. Họ đồng hóa tôn giáo và tín ngưỡng là một.
-        Quan niệm “thiêng liêng” gắn vào lãnh vực tín ngưỡng đã ngấm sâu vào tâm thức của con người. Điều nầy làm họ cho rằng nhu cầu nầy “thánh thiện, cao quý” hơn các nhu cầu tự nhiên cơ bản khác của họ.
-        Cho đến nay chưa có phương cách nào để trấn an, xoa dịu nỗi đau khổ nói chung của con người hiệu quả (và rẻ tiền) hơn là tôn giáo. Do đó con người ôm ấp và bảo vệ tôn giáo bằng mọi giá, kể cả nếu phải đánh đổi bằng sinh mạng và lý trí. Sinh mạng của họ, và nếu cần, của người khác.
-        Cho đến nay chưa có dụng cụ nào có thể dùng để điều khiển, thống trị con người hữu hiệu hơn là tôn giáo. Do đó giới cầm quyền xưa nay đều thường cổ động, ủng hộ nhãn hiệu tôn giáo nào có thể mua chuộc đông đảo dân chúng nhiều nhất. Do đó ngay cả những nhà độc tài lỗi lạc tuy vô thần nhưng vẫn dung dưỡng tôn giáo.

Bài 34: Một Tóm Lược


Có khi tôi rất lấy làm ngạc nhiên trước phản ứng của nhiều người khi họ đọc các bài viết về tôn giáo và tín ngưỡng của tôi. 
 
Họ cho rằng tôi xúc phạm đến họ.

Thật ra tôi không hiểu tại sao. Những điều tôi nói rất giản dị và thực tế:

-        Tín ngưỡng chỉ là một trong các nhu cầu tâm sinh lý cơ bản của con người như nhu cầu ăn, ngủ, tình dục, yêu thương (và được yêu thương), v.v. 
-        Tôn giáo là tín ngưỡng được hệ thống hóa bởi con người.
-        Từ hồng hoang cho đến tận thế, tín ngưỡng luôn luôn có mặt trong tâm thức con người; do đó tôn giáo luôn luôn có mặt trong xã hội.
-        Tôn giáo có những ích lợi tâm lý rất lớn đối với con người. Nhu cầu tâm lý nầy mang một tên riêng: nhu cầu tâm linh.
-        Tôn giáo đồng thời cũng là một công cụ vĩ đại và hữu hiệu nhất mà con người lợi dụng để lường gạt, điều khiển, đàn áp, bốc lột con người.
-        Con người gán đặt ý nghĩa thiêng liêng vào những gì nằm trong lãnh vực tâm linh.
-        Nhiều người (thường ở mức độ tiềm thức) chấp nhận bị lường gạt, điều khiển, đàn áp, bốc lột để đánh đổi được thỏa mản nhu cầu tâm linh của họ.
-        Không bao giờ tiêu diệt được tôn giáo.

Bài 33: Lóa mắt


Có nhiều người dễ bị lóa mắt vì những tước vị của người khác trong vấn đề ý tưởng và lý luận. 

Rất thường khi, chỉ cần tác giả của một bài viết về tôn giáo ký tên là Hòa Thượng ABC hay Linh Mục XYZ là sẽ có những người cho rằng bài viết nầy có giá trị đáng kể. Bất kỳ nếu cách lý luận hay dữ kiện trong bài nầy có vững vàng hay chính xác hay không. Bất kỳ họ có hiểu bài viết đó nói gì hay không.

Họ có khuynh hướng cho rằng nếu họ không hiểu cách lý luận hay chi tiết trong bài nầy thì chẳng qua là vì họ không có đủ trình độ kiến thức để thấu đạt ý của tác giả. Hơn thế nữa, nếu ai khác không hiểu cách lý luận hay chi tiết trong bài nầy thì họ cho rằng người đó không có đủ trình độ kiến thức để thấu đạt ý của tác giả.

Và họ sao chép, trích đăng bài nầy lại cho những người quen biết xem. Đồng thời họ không quên kính cẩn kèm theo tên tác giả - Hòa Thượng ABC hay Linh Mục XYZ - vào bên dưới, như một dấu ấn bảo đảm chất lượng của một món hàng mà chỉ những người sành điệu như họ biết thưởng thức.


Bài 32: Nếu Muốn An Toàn Hơn


Có một lối lý luận mà tôi rất thường nghe từ một số người Công Giáo khi bàn cãi về giá trị của Kinh Thánh, sự hiện hữu của Chúa Trời, v.v.

Những người Công Giáo nầy cho rằng làm theo những lời truyền dạy của Kinh Thánh ("nếu tôn vinh Thiên Chúa thì khi chết sẽ lên Thiên Đàng, nếu không thì sẽ sa vào hỏa ngục đời đời") thì sẽ có lợi và an toàn hơn là phủ nhận chúng. Lý do là vì nếu lỡ như chẳng có Chúa Trời hay Thiên Đàng gì hết chờ đợi con chiên sau khi chết thì họ cũng chẳng mất mát gì lắm; chớ còn nếu không mà lỡ khi chết đi và lời Kinh Thánh có thật rồi phải bị đứng bên ngoài cổng Thiên Đàng nhìn người khác được nhận vào thì sẽ tức tối và hối hận lắm.

Tôi nghĩ cách lý luận nầy cũng có cái lý của nó. 

Tôi đề nghị với tín đồ Công Giáo rằng nếu muốn an toàn hơn nữa thì họ cũng nên tôn vinh luôn vô số các giáo chủ, thần linh và thượng đế khác như Alah, Brahman, Sai Ba Ba, Thanh Hải Vô Thượng Sư, v.v. vì những tôn giáo nầy cũng hứa hẹn các thiên đàng dành riêng cho tín đồ của họ. Nếu lỡ lời truyền dạy trong các kinh sách khác có thật thì sao? Kinh Thánh có gì hay hơn các kinh sách đó?

Theo tôi biết, cho đến nay chưa có tín đồ Công Giáo nào cho lời đề nghị của tôi là có lý.

Bài 31: Tùy Duyên Hóa Độ

Không ai chối cãi được là những tệ nạn như cúng sao, giải hạn, trì chú, giải bùa, trừ ma, ếm quỷ, tụng kinh mướn, cầu Phật khẩn Trời cho buôn mau bán đắt, bái lạy hầu hạ tôn thờ tăng sư, v.v. đã và đang lan tràn sâu rộng ở hầu hết mọi tầng lớp của Phật Giáo từ bao lâu nay. Đại đa số Phật tử lẫn tăng ni đều tham dự ít nhiều vào những tệ nạn trên.

Khi hỏi tại sao không ai làm điều gì để chỉnh đốn Phật Giáo thì câu trả lời tôi thường gặp là "tùy duyên hóa độ". 

"Tùy duyên hóa độ" là một quan điểm cho rằng vì sự hiểu biết về Phật pháp của Phật tử còn kém cõi quá nên cần phải nương theo trình độ đương thời của họ để dần dần hướng dẫn họ theo con đường chính đạo. Nói cách khác, mặc dù biết rằng Phật tử đang hiểu đạo sai và hành đạo bậy nhưng vẫn không được bài bác họ để cho họ còn tiếp tục đến chùa đọc kinh, lạy Phật; và thà là như vậy vẫn còn tốt hơn là làm Phật tử nãn lòng rồi bỏ đạo hẳn.

Theo tôi thì câu "tùy duyên hóa đạo" dùng trong trường hợp nầy là một lối lý luận yếu ớt nếu được tuyên bố bởi một Phật tử, và là một cách ngụy biện tồi tệ nếu được phát biểu từ hàng tăng lữ.

Thứ nhất, nếu cho rằng "tùy duyên hóa độ" là một phương pháp thích ứng để truyền dạy Phật pháp thì nó cũng là một phương pháp không có hiệu quả gì cả. Bằng chứng là đại đa số Phật tử lẫn tăng sư ni từ bao nhiêu thế hệ nay đã, đang và vẫn còn lặn ngụp một cách rất hoan hĩ trong những tệ nạn càng ngày càng phát triển (và quái đản hơn) kể trên. 

Thứ hai, nếu ai cũng áp dụng lối "tùy duyên hóa độ" nầy thì ai sẽ là người hướng dẫn Phật tử theo con đường chính đạo? Và đành rằng cần phải làm chuyện nầy một cách "dần dần" (vì sợ Phật tử nãn lòng rồi bỏ đạo) nhưng bao giờ mới bắt đầu? Tại sao lời giảng dạy lẫn hành vi của hầu như tất cả các tăng sư ni mà tôi biết và đã tiếp xúc qua đều có vẻ tích cực góp phần bành trướng các tệ nạn trên thay vì ngược lại? Tại sao tôi có quá nhiều lý do để tin rằng chính các tăng sư ni nầy cũng không nhận định được là họ đang hiểu đạo sai và hành đạo bậy?

Thứ ba, thế thì vì cho rằng một số Phật tử không có khả năng hiểu nổi ý nghĩa thâm sâu thật sự của Phật pháp nên cứ phải tiếp tục truyền dạy những điều sai bậy cho tất cả mọi người? Thế còn những Phật tử có khả năng thấu hiểu (và đáng lẽ được truyền dạy Phật pháp thật sự) nhưng lại bị nhồi vào óc ngay từ lúc ban đầu với những giáo lý rác rưởi thì sao? 

Thứ tư, nếu cho rằng đừng bài bác những tệ nạn trên vì dù sao chúng cũng đem lại niềm tin cho Phật tử để họ tu tâm dưỡng tánh cũng như tìm được sự thanh thản trong tâm hồn thì có khác gì với chủ trương ủng hộ kẻ nghiện tiếp tục sử dụng ma túy vì họ sẽ bớt quậy phá người chung quanh hay vì họ có thể tìm được cảm giác an lành, khoái lạc cho chính họ? 

Sau chót, vấn đề lợi nhuận (từ cúng dường của Phật tử) cho mỗi chùa chắc chắn là một lý do không nhỏ để các hòa thượng trụ trì muốn ôm ấp mãi cái phương cách "tùy duyên hóa độ" nầy. Cũng vậy, họ dùng lý do "Nếu không có chùa đẹp, tượng to thì Phật tử không đến. Nếu không có Phật tử đến chùa thì làm sao có tiền để xây cất, phát triển và làm sao Phật tử có cơ hội để tiếp tục học đạo?" Tiếp tục học đạo hay tiếp tục học các tệ nạn đó? Tiếp tục học đạo hay tiếp tục cúng dường cho các tăng sư?

Theo tôi, còn người chủ trương "tùy duyên hóa độ" theo lối nầy thì Phật Giáo còn sa đắm trong những tệ nạn trên và còn bị nhận diện như một tôn giáo dung thứ mê tín dị đoan. 

Bài 30: Ích Lợi gì?

Có người hỏi tôi rằng nếu tôn giáo và tín ngưỡng thật sự là nhu cầu cần thiết để trấn an và giúp đỡ con người vượt qua những gian lao, khó nhọc, đau khổ trong đời sống thì việc cố gắng giải nghĩa để cho họ nhận biết rằng Thiên Đàng hay Niết Bàn chỉ là ảo tưởng sẽ mang lại ích lợi gì?

Tôi đồng ý rằng có nhiều trường hợp thì tốt nhất là người trong cuộc cứ tiếp tục sống với những ảo tưởng về Thiên Đàng hay Niết Bàn của họ. Có khi là vì dù gì đi nữa họ cũng không có đủ kiến thức và khả năng suy luận để nhận hiểu được các ý tưởng phức tạp hơn. Có khi là vì nếu lấy đi những ảo tưởng trên thì họ có thể sẽ không chịu đựng nổi những khổ đau, khốn cùng trong cuộc đời họ. v.v. 

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thì sự nhận thức về bản chất thật của tôn giáo và tín ngưỡng có thể giúp nhiều người khỏi bị kẻ khác lợi dụng, hăm dọa, điều khiển hay tránh phải chịu đựng những nỗi sợ hãi vô căn cứ và không cần thiết. 

Thí dụ như khi: 1/ thầy cúng khuyên dụ gia đình tang gia phải trai đàn cúng tụng rườm rà, thỉnh bùa trì chú vì người thân chết phải “giờ trùng” (nếu không thì trong gia đình sẽ có người bị “kéo” chết theo liên tục); 2/ thầy chùa diễn giải việc tôn trọng Phật Pháp Tăng có nghĩa là Phật tử phải cung phụng, hầu hạ, bái lạy, cúng dường tăng sư nếu muốn được phước, 3/ cha xứ răn đe nếu thủ dâm thì sẽ bị Chúa Trời phạt làm mù mắt; 4/ giáo hội kết án những kẻ đồng tính luyến ái là dơ bẩn, bệnh hoạn và sẽ bị cấm vào cửa Thiên Đàng. Nếu một người nhận thức được bản chất thật sự của tôn giáo là gì thì họ sẽ không bị ảnh hưởng bời những chuyện trên.

Nói chung là có hai sự lựa chọn: 1/ Hoặc là được sống an lành với những ảo tưởng mơ hồ của Thiên Đàng hay Niết Bàn ngày sau mặc dù có thể bị lường gạt, lợi dụng, điều khiển bởi kẻ khác; 2/ Hoặc là tránh khỏi bị lường gạt, lợi dụng, điều khiển bởi kẻ khác nhưng phải đối đầu với thực tế phủ phàng là không có Thượng Đế hay Trời Phật gì phò hộ hay cứu rỗi cả. 

Mỗi người đều có sự lựa chọn riêng của họ.

Bài 29: Một Mình Đơn Độc


Hỏi: Theo anh thì không có Phật Chúa Thánh Thần gì có thể phò hộ, cứu rỗi hay thay đổi vận mạng của ai hết?

Đáp: Đúng vậy, cho đến ngày nay tôi vẫn chưa thấy bằng chứng nào làm cho tôi tin điều nầy cả.

Hỏi: Nhưng tín đồ có niềm tin (trong đạo Phật) hay đức tin (trong đạo Chúa) của họ. Họ không cần bằng chứng gì cả, kinh sách nói làm sao thì họ tin như vậy.

Đáp: Tôi sẽ nói về “đức tin” trong Thiên Chúa Giáo vào một dịp khác. Nói về đạo Phật thì tôi biết trong kinh sách nói Phật có dạy đại loại rằng “Đừng chấp nhận những giáo lý ta truyền dạy một cách đương nhiên mà hảy dùng sự suy nghĩ và kiến thức bản thân để tự kiểm nghiệm và đánh giá chúng”. Do đó Phật tử nào chỉ tin vô điều kiện và không tự tìm bằng chứng để kiểm nhận niềm tin của mình là không hành đạo đúng theo lời Phật dạy.

Hỏi: Một người sùng đạo triệt để tin rằng có đấng thiêng liêng phù hộ họ trong cơn hiểm nguy hay cứu độ họ sau khi họ chết. Thí dụ như anh có thể thuyết phục họ từ bỏ niềm tin trên để nhận định được rằng chỉ có một mình họ đứng đơn độc giữa vũ trụ bao la trong (và sau) cuộc đời nầy đi nữa, anh có nghĩ rằng anh làm cho họ sẽ được hạnh phúc, sung sướng hơn không?

Đáp: Cái khái niệm rằng mỗi người đứng một mình đơn độc giữa vũ trụ bao la trong cuộc đời nầy và sau cuộc đời nầy (nếu còn hiện hữu) có thể rất đáng sợ hãi đối với những người xưa nay quen lệ thuộc vào các đấng thiêng liêng để che chở. Tuy vậy, cái khái niệm nầy cũng có thể đem đến sự độc lập và sức mạnh của một người nhận thức được rằng không có huyền lực nào hiện hữu để tưởng thưởng hay trừng phạt mình. (Như đã nói, quan điểm nầy cũng hiện diện trong lý thuyết Phật Giáo khi nói về cách tu học trên con đường giải thoát). Với quan niệm nầy, nếu tôi chủ tâm làm một việc gì trên đời thì đó là vì tôi lựa chọn và muốn làm điều đó cho chính tôi chớ không phải vì hy vọng một phần thưởng hay e sợ một hình phạt gì cả về sau. Đối với tôi đó là một niềm tự hào và một hạnh phúc không nhỏ.

Hỏi: Nhưng trên con đường đời và con đường tìm học đạo gian nan mà không có sức mạnh vô hình nào hỗ trợ thì khó khăn quá!

Đáp: Đó là tại sao người ta không thể, và không dám, chấp nhận cái khái niệm rằng không có sức mạnh vô hình nào hỗ trợ cho ai cả. Đó là tại sao rất khó tu và hành theo đúng như giáo lý Phật Giáo. Đó là tại sao vô số Phật tử dù có hiểu biết thuyết Phật bao nhiêu đi nữa thì vẫn cứ cúng bái cầu xin. Và đó cũng là một lý do lớn tại sao Thiên Chúa Giáo dễ bành trướng mau chóng trên khắp thế giới.