Bài 54: Tượng Phật Chúa Khóc hay Chảy Máu (tiếp theo)


Nhiều trường hợp mà Giáo Hội không công nhận là "phép mầu" thật ra có thể giải thích được bằng khoa học tự nhiên.

Có thể là vì tùy vị trí của pho tượng và góc cạnh của khuôn mặt mà dưới những điều kiện thời tiết thuận lợi thì hơi sương tình cờ đọng trên má của pho tượng. Có thể là vì ánh sáng phản chiếu trên má. Có thể là vì có một vết nứt nhỏ gần mắt nên chất dầu thiên nhiên bên trong sớ gỗ của pho tượng ngày nào đó ứa ra. v.v.

Trong nhiều trường hợp khác, các cuộc điều tra của Giáo Hội đều dẫn đến một kết luận giản dị là: “ngụy tạo”.

Có 2 lý do tại sao những hiện tượng “phép mầu” ngụy tạo xảy ra tràn lan khắp thế giới. Thứ nhất, vì vụ lợi. Thứ hai, vì cuồng tín. Trong nhiều trường hợp, vì sự trộn lẫn giữa 2 lý do trên.

Thứ nhất, như đã nói, mỗi khi có một “phép mầu” bất cứ dạng nào xảy ra ở một địa phương thì điều kiện kinh tế của địa phương ấy sẽ được phát triển thập phần một cách rất nhanh chóng.

Ở những nơi nổi tiếng từ chùa Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc cho đến hang Đức Mẹ ở Lourdes ở miền nam nước Pháp, dịch vụ khách sạn, nhà hàng, du ngoạn, địa ốc, chuyên chở, sản xuất và phân phối đồ lưu niệm, hương đèn, lễ vật cúng bái, v.v. trong các địa phưong nầy đã trở thành những kỹ nghệ có trị giá vĩ đại mang đến sự thịnh vượng vô biên của một số cá nhân cũng như toàn dân trong vùng. Sự việc nầy cũng hoàn toàn đúng cho bất cứ "phép mầu" lớn nhỏ nào xảy ra ở bất cứ địa phương nào.

Để tăng gia lợi nhuận, có những phương cách cúng bái kỳ lạ được sáng chế ra bởi những người điều hành các cơ sở tín ngưỡng nầy. Lấy thí dụ ở Chùa Bà núi Sam, Châu Đốc: số lượng người làm ăn phát đạt trở lại cúng heo quay trả lễ Bà hàng ngày rất cao; số lượng heo được dâng lên cúng Bà do đó nhiều vô kể. Khách thập phương thường từ xa đến nên họ phải mua những con heo đã quay sẳn để bán từ dưới chân núi. Người cúng bái ra vào tấp nập, chen chúc nhau giữa bầu không khí mịt mù khói bốc ra từ hàng ngàn cây nhang và giấy tiền vàng bạc đang cháy. Mỗi người đặt con heo của mình cúng lên một băng gỗ trước điện thờ tượng Bà, thắp nhang cúng vái xong rồi đi ra khỏi sảnh điện để nhường chỗ cho người khác. Con heo quay của họ nằm lại ở đó. Trước khi các nén nhang của họ có đủ thời gian kịp để tàn thì ban trị sự đem con heo của họ vào bên trong để chỗ trống cho người khác đặt con heo khác lên băng đó. Con heo đem vào trong được mang ngược trở xuống chân núi để bán lại cho khách thập phương khác. Có những con heo quay được bán đi bán lại hàng chục lần trong cùng một ngày. Đến cuối ngày, hay hôm sau, các con heo cũ sẽ được bán lần cuối cùng cho thầu thức ăn mua về để cung cấp lại cho các quán ăn khắp xứ.  Nhiều khách đến cúng Bà biết về chuyện nầy, nhưng họ phần đông không phiền hà gì cả. Lý do là vì "ai cũng làm như vậy".

Để bảo vệ nguồn lợi tức quý giá nầy, những người buôn bán địa phương thường tích cực cổ động và truyền bá những câu chuyện linh hiển của Bà và những thí dụ về khách đến cầu khẩn được thành công ra sao, bất kể chính họ có thật sự tin những chuyện nầy hay không. (Thật ra thì hầu hết người địa phương rất tin tưởng việc cầu khẩn Bà. Chính họ cũng cúng bái thường xuyên và nhận thấy công việc buôn bán làm ăn của họ rất phát đạt vì số khách hàng càng lúc càng đông. Sự cộng hưởng hỗ trợ dây chuyền nầy có tác dụng làm cho chùa Bà càng lúc càng nổi tiếng linh thiêng và phồn thịnh).

Sự cuồng tín là lý do chính thứ hai dẫn đến việc ngụy tạo phép mầu. Có những người vì quá sức mê muội trong sự tin tưởng của họ, họ cố ý giàn cảnh tạo dựng ra những "phép mầu" để thu hút nhiều người khác thêm vào con đường của họ.

Những người nầy suy luận rằng việc làm giả mạo của họ là đúng, và cần thiết. Họ nghĩ rằng có niềm tín ngưỡng như họ là một điều cao cả. Họ cho rằng họ nên, và cần, làm bất cứ điều gì để truyền bá niềm tín ngưỡng nầy. Họ tin rằng đây là một lối để phục vụ đấng thiêng liêng của họ.

Cũng có không ít người tự thú rằng tình yêu Thiên Chúa của họ tuy không đồng loại nhưng cũng cuồng nhiệt như tình yêu trai gái. Trường hợp  nầy cũng xảy ra trong các tôn giáo khác. Nhất là những người vừa mới tìm gặp niềm tin tín ngưỡng, họ cảm thấy sung sướng và hạnh phúc đến nỗi muốn chia sẻ với mọi người.

Với bất cứ giá nào. Kể cả lừa gạt.

Bài 53: Tượng Phật Chúa Khóc hay Chảy Máu


Theo sự hiểu biết của tôi, trong hàng ngàn trường hợp tượng Phật Bà hay tượng Đức Mẹ khóc hay chảy máu chỉ có một trường hợp là không xác định được. Phần còn lại đều là giả mạo hoặc lầm lẫn. Và một trường hợp không xác định được trên thường là vì chủ nhân của các pho tượng đó không cho phép ai áp dụng phương pháp khảo nghiệm khoa học để kiểm nhận rõ ràng hiện tượng đó có thật hay không. 

Ngay từ thế kỷ 15, 16 đã có những tài liệu viết về hiện tượng tượng Đức Mẹ khóc hay chảy máu. Vào những năm 1970 đến 1990 có rất nhiều hiện tượng tương tự ở những lãnh địa Công Giáo và Chính Thống Giáo trên toàn thế giới kể cả Á Châu và Phi Châu.

Một điều tôi phải công nhận là Giáo Hội Công Giáo đưa ra những tiêu chuẩn kiểm nghiệm rất nghiêm khắc về vấn đề nầy. Họ điều tra tất cả các trường hợp đáng kể và từ đó đến giờ chỉ chính thức công nhận vài trường hợp trong hàng ngàn trường hợp họ đã kiểm nghiệm.

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, các trường hợp mà Giáo Hội được công nhận thật sự là “phép mầu” cũng được bảo vệ một cách rất triệt để: họ không cho phép ai khác ngoài người của họ kiểm nghiệm. Cách kiểm nghiệm của họ cũng không phải luôn luôn là những phương pháp kiểm nghiệm khoa học được công nhận và thường dùng ở khác lãnh vực khác như khảo cổ hay hình sự. (Đội điều tra hình sự trong phim tập TV được nhiều người ưa chuộng NCIS – Naval Criminal Investigative Services - không bao giờ có cơ hội trổ tài của họ lên những pho tượng nầy!)

Lý do chính là vì Giáo Hội cũng cần có một số phép mầu để củng cố vị thế của họ. Họ không thể để những “phép mầu” lan tràn mọi nơi không kiểm soát được, nhất là những “phép mầu” được ngụy tạo một cách thô sơ do bất cứ ai ở những địa phương xa lạ nào đó. Điều cần nhận biết là những “phép mầu” dạng nầy nếu xảy ra trong lãnh phận nào thì đem đến ưu thế vô biên cho uy tín tôn giáo cũng như điều kiện kinh tế cho lãnh phận ấy. Những hiện tượng được công nhận bởi Giáo Hội đều nằm trong những lãnh phận có liên minh mật thiết và được “ưu đãi” bởi Giáo Hội.

Có ít trường hợp tượng Phật Bà khóc hay chảy máu được tường thuật hơn trường hợp Đức Mẹ. Rất hiếm có trường hợp Phật Thích Ca hay Chúa Giê Su khóc. Có thể vì quan niệm thông thường trong đầu người ta là đàn bà dễ động lòng khóc hơn đàn ông chăng?

Ở Việt Nam, những trường hợp tượng Phật Bà (hay bà Thánh Mẫu, Công Chúa, v.v.) thường xảy ra ở  những vùng thôn quê xa xôi. Thường không có tổ chức tôn giáo nào chính thức đến kiểm nghiệm hay công nhận các hiện tượng nầy cả. Thường thì nghe theo lời đồn đãi, nhiều người sẽ đổ xô tấp nập đến những địa phương nầy để cúng bái, cầu khẩn cho sức khỏe, tiền tài, gia cảnh của họ. Số người sùng mộ thường bùng cao lên trong một lúc rồi xẹp xuống khá mau chóng. Phần lớn các hiện tượng “hiển linh” nầy đi vào sự quên lảng của đại đa số quần chúng, kể cả tín đồ, sau một thời gian ngắn. 

Rất nhiều người suốt đời hăm hở chực chờ để đi “hành hương” từ hiện tượng linh thiêng nầy đến hiện tượng linh thiêng khác. Đây là một cách thông dụng để nhu cầu tâm linh của họ được “giải trí”, không khác gì người ta thỉnh thoảng cần đi xem hát, xem kịch để mua vui.

Bài 52: Phật Chúa Hiện Thân (tiếp theo)


Hỏi: Còn vô số các thí dụ như Phật Bà hiện ra trên một gốc cây, Chúa Giê Su hiện ra trên bức tường loang lỗ đàng sau một giáo đường bỏ hoang, v.v.  thì sao?

Đáp: Tất cả đó chỉ là những trường hợp người ta gán đặt những ý nghĩa “quan trọng” lên những hình ảnh “bình thường” (hiện tượng tâm lý “pareidolia”) như đã đề cập ở trên. Họ diễn dịch các vết sẹo trên vỏ cây hay những vệt rong rêu trên bức tường cũ ra thành những hình ảnh mà trong đầu họ muốn thấy. Hiện tượng nầy cũng giống như nhìn lên những đám mây trên trên đủ lâu thì sẽ thấy những hình thú vật hay mặt người, v.v.

Hỏi: Còn các câu chuyện như tượng Đức Mẹ khóc ra máu, tượng Phật Bà tỏa hương thơm trong những ngày rằm, v.v. thì sao?

Đáp: Hầu hết tất cả chỉ là giàn cảnh giả tạo để vụ lợi. Ngay cả Giáo Hội Công Giáo cũng ngăn cấm tín đồ truyền bá những câu chuyện nầy. Ngay cả Giáo Hội cũng điều tra và cho hầu hết các việc nầy là "không có bằng chứng thích đáng" hay "mê tín dị đoan". Tuy nhiên trong khi đó thì chính Giáo Hội cũng tự họ công nhận một số "phép mầu" tương tự khác mà nhiều người khác cho rằng "không có bằng chứng thích đáng" hay "mê tín dị đoan".

Hỏi: Anh nói "hầu hết là giàn cảnh giả tạo". Thế còn phần còn lại thì sao?

Đáp: Phần còn lại có thể dùng hiện tượng tâm lý pareidolia như đã nói ở trên để giải thích.

Hỏi: Anh nói  nhiều người khác cho rằng các phép mầu mà Giáo Hội Công Giáo công nhận là "không có bằng chứng thích đáng" hay "mê tín dị đoan". Họ là ai?

Đáp: Là vô số những người không thuộc vào Công Giáo, kể cả các tín đồ Thiên Chúa Giáo khác như Tin Lành chẳng hạn.

Bài 51: Phật Chúa Hiện Thân


Hỏi: Có nhiều câu chuyện kể lại Đức Mẹ, Phật Bà, Phật Thích Ca, Chúa Giê Su, v.v. hiện thân ra trước tín đồ. Anh nghĩ sao?

Đáp: Cũng tương tự như các trường hợp ma quỷ hiện hình ở trên, đại đa số các hiện tượng “thiêng liêng” loại nầy trong tôn giáo đều có thể giải thích được bằng tâm sinh lý và vật lý học.

Hỏi: Anh cho rằng Phật Chúa hay thần thánh cũng giống như ma quỷ à?

Đáp: Đúng vậy. “Ma quỷ” hay “thần thánh” hay “Phật Chúa” có khác nhau chăng là ở ấn tượng “lành, dữ” hay “thiện, ác” trong đầu những người tin vào những chuyện nầy mà thôi. Ngoài ra thì bản chất của ma quỷ hay thần thánh hay Phật Chúa không khác nhau gì cả.

Hỏi: Xin anh giải thích thêm.

Đáp: Theo người ta tin thì ma quỷ hay thần thánh hay Phật Chúa đều thuộc về thế giới siêu hình. Nếu theo người ta kể thì khi thấy ma quỷ hay thấy Phật Chúa chỉ là khi ngũ quan của họ cảm nhận được thế giới siêu hình đó. Tôi đã trình bày những cách giải thích khả hữu cho trường hợp thấy ma quỷ. Những cách giải thích nầy do đó cũng áp dụng được cho trường hợp người ta cho rằng họ thấy thánh thần, Phật Chúa.

Hỏi: Nói cách khác, anh cho rằng phần lớn các hiện tượng thiêng liêng loại nầy trong tôn giáo đều hoặc được tạo dựng từ ấn tượng trong đầu của nhân chứng hoặc từ những tác động của môi trường thiên nhiên?

Đáp: Đúng vậy.

Hỏi: Từ đâu đưa anh đến nhận định như vậy?

Đáp: Thí dụ: Hầu hết tất cả các câu chuyện kể lại việc “hiện thân linh hiển” của Phật Bà, Đức Mẹ, v.v. đều chỉ xảy ra ở những vùng quê xa xôi cho những đứa trẻ con, những nông dân, những mục đồng, v.v. Tại sao như vậy? Tại vì những người nầy nói chung đã tin tưởng cuồng nhiệt vào những việc nầy. Khi có môi trường tâm sinh vật lý thuận lợi thì sự tin tưởng cuồng nhiệt đó sẽ sẵn sàng và dễ dàng tạo ra những ấn tượng thích ứng trong đầu họ. Những người nầy không có đủ trình độ học vấn hay kiến thức để nhận định được việc đó.  

Hỏi: Nhưng tại sao có vô số người có trình độ học vấn và hiểu biết cao cũng tin tưởng và xác nhận những phép mầu trên?

Đáp: Thứ nhất, những người nầy cũng là những tín đồ đã cuồng nhiệt tin tưởng vào những chuyện nầy. Thứ hai, và quan trọng hơn nữa là họ muốn tin tưởng rằng họ đang chứng kiến phép mầu. Thứ ba, con người không khác gì cừu. Chỉ cần một con cừu đầu đàn dẫn đường là đa số những con cừu trong bầy ngoan ngoản đi theo. Bầy cừu đi trước càng đông thì những con cừu ở phía càng dễ dàng nối đuôi theo không cần suy nghĩ.

Hỏi: Tại sao anh cho rằng các chuyện “hiện thân” của Phật Chúa thánh thần đều là sản phẩm tưởng tượng của tín đồ?

Đáp: Tại vì tôi không bao giờ nghe chuyện Phật Bà hay Đức Mẹ hay Chúa Giê Su hiện ra trước mặt những người vô tôn giáo, vô tín ngưỡng cả. Tại vì các đấng thiêng liêng nầy không bao giờ hiện ra trước mặt một đám đông trong một khung cảnh sáng sủa, một môi trường quang minh khi mà người ta có thể chụp ảnh, quay phim rõ ràng để giữ lại làm bằng chứng cho một phép mầu huyền diệu như vậy cả. Nếu thật sự là một khám phá vĩ đại khi thế giới vật chất bắt liên lạc được với thế giới phi vật chất như thế thì tại sao không có một tài liệu khoa học độc lập (nghĩa là không do tín đồ chủ xướng) nào tường trình lại chuyện đó?

Hỏi: Nhưng người ta sẽ giải thích rằng các đấng thiêng liêng chỉ hiện thân ra cho những tín đồ có lòng thành tín nhất thấy được mà thôi.

Đáp: Đó chính là điều tôi đã nói: “Chỉ có các tín đồ với lòng thành tín nhất mới có thể thấy Phật Bà hay Đức Mẹ hay Chúa Giê Su, v.v. hiện thân ra mà thôi”. Nếu đó không chỉ là sản phẩm tưởng tượng riêng của họ thì còn là gì khác?

Hỏi: Nhiều người sẽ bất bình khi anh cho rằng Phật Chúa cũng giống như ma quỷ.

Đáp: Thế thì như đã nói, ngoài những ấn tượng như “tốt, xấu”, “thiện, ác”, “sáng, tối”, “cao, thấp”, v.v. mà con người đặt ra trong đầu họ thì hiện thân của Phật Chúa và hiện thân của ma quỷ khác nhau ở chỗ nào? Và nếu giả dụ như họ có thật sự thấy được những hình ảnh mà họ cho là Phật Bà hay Đức Mẹ thì điều gì bảo đảm rằng cái họ đang thấy không phải là ma quỷ?

Bài 50: Con Vụ


Nhìn con vụ đang quay. Đó là một sự “thăng bằng” tạm thời giữa lực ly tâm, trọng lực, lực ma sát, lực cản của không khí, v.v.

Và vũ trụ, là sự “thăng bằng” tạm thời giữa sự di chuyển của tất cả các thiên hà, thái dương hệ, tinh tú, hành tinh, vệ tinh, v.v. từ lúc bị bắn ra mọi hướng sau khi “Big Bang” và lực hút đẩy lẫn nhau giữa những thiên thể nầy.

Sự thăng bằng của con vụ chỉ tồn tại khoảng một phút. Sự thăng bằng của vũ trụ có thể tồn tại tỉ tỉ tỉ năm của địa cầu.

Hình ảnh của vũ trụ mà chúng ta hiện thấy chỉ tương đương với một khuôn ảnh trong một cuộn phim ciné dài.

Trong khoảng thời gian tồn tại ngắn ngủi của một khuôn ảnh nầy, một số điều kiện sinh hóa vật lý ngẫu nhiên xảy ra trên một thiên thể gọi là địa cầu tạo ra một môi trường tạm thời thuận lợi đủ để cái gọi là sự sống xảy ra. Môi trường thuận lợi nầy cũng chỉ là một sự thăng bằng tạm thời giữa vô số trường hợp có thể xảy ra trên địa cầu. Môi trường thuận lợi cho sự sống nầy có thể chỉ tồn tại vài tỉ năm, một tích tắc so với chu kỳ sống của vũ trụ. Trong một khoảng rất nhỏ đâu đó của cái tích tắc ấy, con người trở thành hiện hữu cùng với những “nền văn minh” của họ.

Vũ trụ thay đổi hình dạng và kích thước không ngừng. Tất cả thiên thể đã, đang và đều tiếp tục di chuyển với những vận tốc trong những khoảng không gian mà con người không thể tưởng tượng và cảm nhận được.

Sự di chuyển nầy làm thay đổi tất cả các điều kiện sinh hóa vật lý trên mọi thiên thể, kể cả địa cầu. Do đó cái môi trường sống tạm thời trên địa cầu sẽ trở thành không còn thuận lợi nữa. Sự sống trên địa cầu rồi sẽ bị tiêu diệt.

Đâu đó trong vũ trụ trên những thiên thể nào đó có lẽ lúc nào cũng có những môi trường thích hợp cho sự sống đã, đang và sẽ tiếp tục xảy ra rồi bị tiêu diệt giống như vậy. Và kèm theo đó là những sự sống, những nền văn minh cũng xảy ra như một tia chớp lóe lên trong đêm tối, rồi biến mất.

Nếu có một sinh vật giả tưởng chưa từng thấy con vụ đang quay bao giờ thì hình ảnh một vật thể đứng thăng bằng trên một đầu nhọn như thế có vẻ trái ngược với mọi kinh nghiệm tự nhiên thường ngày, và do đó rất lạ lùng.

Nếu đời sống của sinh vật nầy cực kỳ ngắn ngủi đến độ tất cả nền văn minh của toàn chủng loại của chúng chỉ tồn tại trong vài giây đồng hồ, chúng có lẽ sẽ nghĩ rằng con vụ là một vật thể đã, đang và sẽ luôn luôn nằm ở trạng thái kỳ diệu nầy.

Tương tự, khi  nhìn ra vũ trụ con người  chỉ thấy sự huyền diệu bất tận trong khoảng không gian và thời gian bất tận của vũ trụ. Họ cho rằng vũ trụ đã, đang và sẽ hiện hữu mãi mãi.

Con người có khả năng suy luận và hiểu biết; và trí tưởng tượng. Họ nhận thấy trạng thái kỳ diệu của vũ trụ, và sự sống, mà họ đang chứng kiến vượt xa qua khỏi sức cảm nhận của họ. Họ cho rằng phải có một sinh vật có khả năng hiểu biết và quyền thế siêu phàm hơn họ vô kể tạo dựng ra và điều hành những sự việc nầy.

Vốn là một loài thú sống theo bầy, con người quen thuộc với khái niệm “con thú đầu đàn”. Họ tưởng tượng ra một con thú đầu đàn cho họ và đặt tên là Thượng Đế.

Họ hãnh diện cho rằng Thượng Đế của họ bất tận. Họ không thể thấy rằng những cái bất tận đối với họ chỉ là một cái chớp mắt so với những diễn biến trong vũ trụ.

Con vụ đang quay đứng thăng bằng một cách kỳ diệu và vĩnh viễn đối với con người.


Bài 49: Ma Quỷ


Tôi “tin” (nói đúng ra là tôi “nghi ngờ”) rằng ngoài các loại năng lượng mà chúng ta quen thuộc còn có thể có những dạng năng lượng khác đôi khi gây ra những giao động trong khoảng không gian chúng ta đang sống và một số người chúng ta có thể cảm nhận được bằng cách nầy hay cách khác. Đây hoàn toàn chỉ là một giả thuyết mà tôi thâu nhận nhằm cố giải thích về những hiện tượng mà tôi nghe tường thuật lại.
 
Theo giả thuyết mà tôi "tin", cái gọi là "linh hồn" là một dạng năng lượng mà có những trường hợp có thể thoát ra khỏi thân xác của một người sau khi họ qua đời và tồn tại trong trạng thái độc lập một thời gian. Khoảng thời gian nầy có thể rất ngắn, hay rất dài. Những khối năng lượng nầy có thể còn chứa đựng những đặc tính cá thể của người đó, có thể không. Tôi không biết.


Hỏi: Anh nghĩ có ai không tin chuyện ma quỷ không?

Đáp: Khái niệm “ma, quỷ” hiện diện với con người trong hầu như bất cứ dân tộc, quốc gia, nền văn hóa trong bất cứ thời đại nào. Ngay từ thời tiền sử, dựa theo bằng chứng thu thập được, khái niệm “ma, quỷ” đã có mặt và phổ biến. Trong bất cứ tôn giáo nào cũng có khái niệm nầy, ngay cả Thiên Chúa Giáo (ngược lại với cách hiểu biết của nhiều người là “Thiên Chúa Giáo không tin và dạy rằng không có ma quỷ”).

Hỏi: Anh nghĩ từ đâu mà mỗi người có khái niệm nầy?

Đáp: Cũng như nhiều kiến thức khác, khái niệm ma quỷ được truyền dạy cho hầu hết mỗi người chúng ta từ những mẩu chuyện kể lại bởi gia đình, bạn bè khi chúng ta còn là trẻ con. Một thí dụ thông thường nhất như là khi người mẹ dỗ con ngủ với những câu tương tự như “không ngủ thì ông kẹ cắn à!” thì bà đã đưa vào tiềm thức  đứa bé khái niệm ma quỷ (cùng ấn tượng sợ hãi). Những ấn tượng sợ hãi đó thường gắn liền với mỗi người suốt đời họ.

Hỏi: Anh cho là đó là lý do hầu như ai cũng “sinh ra” với khái niệm ma quỷ và ấn tượng sợ hãi?

Đáp: Đúng vậy. Hầu hết chúng ta dù cố gắng suy nghĩ và nhớ ngược lại trong đời mình cách mấy cũng không thể nào xác định được lần đầu tiên chúng ta nghe biết về vấn đề ma quỷ. Lý do là vì nó thường được truyền dạy cho mỗi người từ lúc còn sơ sinh từ những người chăm nom nuôi nấng họ.
Khi lớn lên một chút, lúc một đứa trẻ giao du với hàng xóm, bạn bè thì những câu chuyện ma quỷ từ một gia đình, từ một thế hệ được trao đổi sang gia đình và thế hệ khác.

Hỏi: Anh nghĩ tại sao người ta sợ ma nhưng thích nghe kể chuyện ma?

Đáp: Tôi nghĩ lý do đó cũng tương tự như lý do tại sao ở các hội chợ người ta thích chơi những trò chơi cực kỳ nguy hiểm, thích ngồi trên những chiếc đu chạy với tốc độ hãi hùng ngoặc ngoẹo leo lên rơi xuống những độ cao choáng váng.

Hỏi: Để kích thích thần kinh cực độ?

Đáp: Đúng vậy. Một yếu tố quan trọng để họ thích thú làm việc nầy là vì họ biết rằng khi qua khỏi những cảm giác kinh hoàng tạm thời đó thì họ sẽ vẫn được an toàn.   

Hỏi: Anh cho rằng phần nhiều những chuyện ma quỷ đều có nguồn gốc “nhân tạo”?

Đáp: Đúng vậy. Có nhiều sự kiện cho thấy rằng khái niệm “linh hồn”, và từ đó “ma quỷ”, rất có thể đã xuất phát từ sự hiểu biết và nhận xét thô sơ của người ta trong thời xa xưa khi kiến thức khoa học còn hạn hẹp.

Hỏi: Thí dụ?

Đáp: Một thí dụ là ngay từ xa xưa người ta đã cho rằng 1/ linh hồn nằm bên trong thân xác mỗi người, 2/ linh hồn là những vật thể mơ hồ, sương khói, và 3/ ở những xứ lạnh người ta nhận thấy hơi thở từ mũi của họ có dạng sương trắng mờ. Những dữ kiện trên có thể đã đưa đến việc chữ “linh hồn” trong một số ngôn ngữ như Latin (“spititus”) hay Hy Lạp (“pneuma”) đều có nghĩa gốc là “hơi thở”. Ngay cả những người viết ra Kinh Thánh cũng có vẻ chịu ảnh hưởng nầy, họ diễn tả Chúa Trời thổi hơi thở vào tượng đất sét để ban sự sống cho Adam.

Hỏi: Theo anh thì có nhiều cách giải thích các hiện tượng ma quỷ?

Đáp: Đúng vậy. Đại đa số các trường hợp ma quỷ đều là do ấn tượng của người trong cuộc. Tôi biết có người đó đến ở một căn nhà lạ một mình, giữa đêm khuya ông ấy giật bật khỏi giấc ngủ vì có ai đang rên rỉ, cào cấu bên ngoài vách và gõ lộp cộp trên nóc nhà. Ông ấy cực kỳ sợ hãi chỉ nằm trùm mền chịu đựng không dám bước ra khỏi phòng. Khi trời sáng thì các tiếng động đó vẫn tiếp diễn. Tuy vậy, vì trời đã sáng nên ông có can đảm đi ra ngoài sân. Ông thấy trời đang gió mạnh (có lẽ bắt đầu từ nửa đêm sau khi ông đi ngủ) làm một cánh cửa sổ quên kài then kêu kót két nghe giống tiếng người rên, vài cành cây sát bên nhà đang đong đưa cọ vào vách, và những trái thông vẫn còn đang rơi lộp độp trên nóc nhà. Những hình ảnh ma quỷ kinh hãi đêm qua tự dưng biến mất dưới ánh sáng mặt trời mặc dù cùng một hiện tượng vẫn còn đang tiếp diễn.

Hỏi: Nhưng có nhiều trường hợp khác rõ rệt ngay trước mắt người ta.

Đáp: Có một hiện tượng tâm lý mà tiếng Anh gọi là “pareidolia” để diễn tả khuynh hướng của người ta thường hay gán đặt những ý nghĩa “quan trọng” lên những hình ảnh và tiếng động “bình thường”. Một thí dụ thông thường là nếu nhìn lên những đám mây trắng trên trời một lúc lâu đủ thì phần đông chúng ta có thể nhận ra những hình ảnh như con thỏ, con chim, mặt người, v.v. Một thí dụ nữa là nhiều người cho rằng khi lắng tai nghe thì họ có thể nhận ra được tiếng người nói lẫn trong tiếng nhiễu xạ (white noise) của một băng tần radio hay tivi nào đó. Hiện tượng tâm lý nầy thường được phóng đại lên trên ấn tượng của một người khi họ đang ở trong những khung cảnh “thích hợp”.

Hỏi: Anh muốn nói là một loại “tự kỷ ám thị”?

Đáp: Có thể nói như vậy. Thí dụ như khi nhìn ra bãi cây rậm trong bóng tối trong một đêm sương lạnh, sự kết hợp giữa bóng lá rung rinh dưới ánh trăng lờ mờ cùng hơi sương lãng đãng có thể làm người ta dễ dàng hình tượng ra một bóng trắng chập chờn sau những bụi cây.

Hỏi: Còn cách giải thích nào khác nữa về các hiện tượng ma quỷ?

Đáp: Nhiều người kể lại chuyện thấy thoáng bên ngoài góc mắt của họ một cái bóng di chuyển nhưng khi họ quay qua thì không thấy ai cả.  Hiện tượng nầy có thể được giải thích bằng việc những hình ảnh thu nhận từ các góc cạnh vừa ngoài tầm nhãn trường (peripheral vision) của một người có khi bị méo mó và không chính xác. Khi thần kinh đang căng thẳng hay mắt đang bị mỏi mệt thì sự kiện nầy càng dễ dàng xảy ra vì những tín hiệu từ mắt có thể được não bộ “phiên dịch” một cách rất lệch lạc.

Hỏi: Ngoài những lý do tâm sinh lý ở trên thì còn cách giải thích nào khác không?

Đáp: Chẳng hạn như khi các thềm lục địa di chuyển sẽ tạo ra các thay đổi khác thường trong địa từ trường trong những vùng lân cận. Khi địa từ trường thay đổi cường độ, nhiều bằng chứng cho thấy một số thú vật có thể cảm nhận được (thí dụ như thú rừng “di tản” ra khỏi vùng động đất trước khi biến cố đó xảy ra). Có người nhạy cảm hơn người khác trong phương diện nầy; có một số người có khi vì lý do gì đó trở thành nhạy cảm hơn bình thường. Sự nhạy cảm bất thường nầy có thể làm người ta “nghe” và “thấy” những hình ảnh và âm thanh lạ lùng đáng sợ hãi.

Hỏi: Còn gì nữa?

Đáp: Chẳng hạn như hình ảnh và tiếng động con người nghe thấy bình thường chỉ nằm trong một phạm vi nhỏ của toàn khoảng ánh sáng và âm thanh xảy ra trong thiên nhiên. Ngũ giác của con người không thể nghe thấy những ánh sáng và âm thanh với tần số cực nhỏ hay cực lớn. Một số các thú vật khác có thể. Đó là tại sao người ta nói “chó sủa ma” trong khi thật ra con chó chỉ phản ứng với những tiếng động tự nhiên chỉ có thính giác nhạy bén của nó nghe được. Tương tự như trường hợp trên, thỉnh thoảng có những người vì lý do gì đó mà họ trở thành tạm thời nhạy cảm hơn bình thường do đó khi bước vào một căn nhà hoang chẳng hạn họ có thể có những cảm giác kỳ lạ như tự nhiên bị hồi hộp, hay cực kỳ buồn thảm, hay rợn tóc gáy, hay cảm tưởng đang bị theo dõi hay chạm nhẹ vào da, v.v.

Hỏi: Thế còn cách giải thích về linh hồn là những khối năng lượng hiện hữu độc lập mang đặc tính cá thể của mỗi người lúc còn sống thì sao?

Đáp: Tuy tâm sinh lý và vật lý có thể giải thích đại đa số những trường hợp ma quỷ người ta kể lại, có một số trường hợp mà chúng không thể giải thích thỏa đáng được. Đó là khi có lẽ tôi phải dùng đến cái giả thuyết linh hồn kể trên. Như đã nói, giả thuyết nầy không hoàn toàn kiểm chứng được và do đó chỉ có thể dùng để tạm thời lấp đầy một khoảng trống trong những cách giải thích về ma quỷ mà không cần phải tận dụng đến những khái niệm thiêng liêng, huyền bí cung cấp bởi tôn giáo.

Bài 48: Phật Giáo vs Thiên Chúa Giáo

Hỏi: Có người cho là anh đả phá Phật Giáo khá nhiều, anh nghĩ sao?

Đáp: Tôi không đả phá Phật Giáo. Tôi chỉ bình phẩm về những tệ nạn lan tràn trong Phật Giáo. Những tệ nạn không chối cãi được (nhưng không phải ai cũng muốn nhìn nhận hay thảo luận đến). Những người đó không phân biệt được giữa lãnh vực lý thuyết và lãnh vực thực hành của một tôn giáo. Tôi chỉ đang bình phẩm về một phần lớn của lãnh vực thực hành trong Phật Giáo.

Hỏi: Tại sao anh không bình phẩm về những tôn giáo khác ngoài Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo?

Đáp: Thật ra là tôi hiện tại chỉ đang chú trọng về Phật Giáo. Tôi mới đề cập phớt qua vài nhận xét về Thiên Chúa Giáo mà thôi. Để trả lời câu hỏi trên: Đó là vì Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo là hai tôn giáo lớn nhất của người Việt Nam. Tôi quen thuộc nhiều với những vấn đề liên quan đến hai tôn giáo nầy. Tuy nhiên tôi tin rằng một số lớn các lời bình phẩm của tôi ở đây cũng áp dụng được cho nhiều tôn giáo khác.

Hỏi: Anh nói hiện tại anh chỉ mới đề cập phớt qua về Thiên Chúa Giáo mà thôi?
  
Đáp: Đúng vậy. Thật ra đối với tôi thì phê bình về Thiên Chúa Giáo khá nhàm chán so với phê bình về Phật Giáo.

Hỏi: Tại sao?
Đáp:  Phê bình về Phật Giáo giống như tỉa cây, phải lựa chọn cẩn thận cành nào hư gẩy, trái nào sâu thúi mà bẻ bỏ. Phê bình về Thiên Chúa Giáo giống như phát cỏ, cứ đưa phảng qua là trúng cỏ dại, hầu như chỗ nào cũng trúng.
Hỏi: Anh có biết rằng nhiều người Công Giáo rất dị ứng khi anh nói đến tôn giáo của họ?

Đáp: Tôi biết nhiều người rất khó chịu với tất cả những gì một người "vô tôn giáo, vô luân lý, vô đạo đức" như tôi viết. Tuy nhiên, tôi chỉ trình bày những gì tôi nhận thấy: thực tế, hiện hữu, có bằng cớ và có thể kiểm chứng bất cứ lúc nào. 

Hỏi: Anh không quan tâm đến việc người ta khó chịu với anh à?

Đáp: Chỉ với những người đáng tôi quan tâm.

Bài 47: Sư Sãi và Người Phu Quét Đường



Hỏi: Có người cho rằng anh có vẻ có nhiều vấn đề với sư sãi?
 
Đáp: Tôi có nhiều vấn đề với nhiều sư sãi, chớ không phải tất cả.
 
Hỏi: Khi đối thoại với một tu sĩ, anh xưng hô ra sao?
 
Đáp: Tôi gọi họ là “thầy”, và xưng “tôi”.
 
Hỏi: “Thầy” như là “thầy giáo”?
 
Đáp: Chữ “thầy” tôi dùng là nói tắt cho chữ “thầy tu” hay “thầy chùa”; vì đó là nghề nghiệp của họ. “Thầy chùa” để chỉ một thầy tu ở trong chùa.
 
Hỏi: Anh cho rằng tu hành là một nghề nghiệp?
 
Đáp: Nghề nghiệp và bổn phận của người phu quét đường là quét dọn sạch đường phố. Để bù lại công lao của họ, họ được trả lương và dùng tiền lương đó để sống. Nghề nghiệp và bổn phận của một thầy tu là học hỏi thấu đáo đạo pháp để giảng dạy trung thực lại cho Phật tử. Để bù lại công lao của họ, họ được Phật tử nuôi ăn cho ở (gọi theo sách vở là “cúng dường”) và kính trọng. Người phu quét đường không quét dọn sạch sẻ đường phố là không làm tròn trách nhiệm của họ, do đó không đáng được lảnh lương. Thầy tu không giảng dạy trung thực đạo pháp là không làm tròn bổn phận của họ, do đó không đáng được kính trọng.
 
Hỏi: Làm sao anh có thể so sánh quét đường với tu hành được?
 
Đáp: Mỗi công việc được xếp hàng quan trọng khác nhau trong xã hội, do đó họ được trả công khác nhau. Tuy vậy, mỗi người đều có trách nhiệm như nhau trong phạm vi nghề nghiệp của họ.
 
Hỏi: Anh cho rằng một thầy tu không làm tròn trách nhiệm giảng dạy đạo pháp thì không đáng kính trọng?
 
Đáp: Có thể họ đáng được kính trọng trong phương diện nào khác, nhưng không đáng được kính trọng như một thầy tu. Theo tôi thì những người không làm tròn bổn phận trong nghề nghiệp của mình như vậy chỉ đáng được coi là ăn bám.


Bài 46: Sự Vô Ý Thức của Một Số Phật Tử




Tôi không có gì chống đối việc sử dụng lý thuyết Phật Giáo vào đời sống hàng ngày. Nhân sinh quan của bản thân tôi chịu ảnh hưởng lớn bởi triết lý Phật Giáo. Tôi chỉ có nhiều vấn đề với cách thức nhiều người áp dụng lý thuyết Phật Giáo vào đời sống. Như đã nói, trong Phật Giáo hiện tại có vô số tăng sư giảng dạy tín đồ những phương cách tín ngưỡng mà tôi chỉ có thể gọi là mê tín dị đoan với mục đích không gì hơn là để lường gạt, bóc lột. Và có vô số Phật tử vô ý thức tiếp tay truyền bá các mê tín dị đoan nầy.


Hỏi: Phật tử vô ý thức ra sao?

Đáp: Có một dạng Phật tử vì không có trình độ học vấn và hiểu biết nên ai nói sao họ nghe vậy. Vì hoàn cảnh không phép nên họ không có đủ khả năng kiến thức và lý luận để xác định được giá trị của những lời “giảng dạy” từ giới sư tăng và sự “hướng dẫn” của các Phật tử khác. Tôi không có vấn đề gì mấy đối với những người nầy.

Hỏi: Còn dạng khác?

Đáp: Một dạng Phật tử khác có trình độ học vấn và kiến thức đầy đủ. Đáng lẽ họ có thể nhận định được rằng những phương cách tín ngưỡng trên chỉ là mê tín dị đoan, những hành vi trên của sư sãi chỉ là lường gạt, bóc lột. Tuy vậy họ hoặc là 1/ không thể lột gỡ được những thành kiến hạn hẹp trong đầu họ, hoặc là 2/ lựa chọn cố ý để không phản ứng gì cả. Tôi có vấn đề với những người nầy. 

Hỏi: Anh nghĩ tại sao những người nầy không có phản ứng gì về việc đó?

Đáp: Vì một số lý do. Thứ nhất, họ không có thói quen phê bình chỉ trích sư sãi. Rất có thể vì cha mẹ họ đã dạy họ từ nhỏ là “các bậc tu hành đều đáng kính trọng”, “sư sãi đại diện cho Phật để dạy Phật pháp”, v.v. Cái mà cha mẹ họ quên dạy là sư sãi cũng chỉ là những con người có đủ tham sân si và sai trái. Lớn lên khi họ bất ngờ nghe thấy ai phê bình, chỉ trích những sai trái của tăng sư thì họ cảm thấy “sốc” và phản ứng tự vệ thúc đẩy họ chống đối lại người đó lập tức không cần suy nghĩ.

Hỏi: Lý do kế đó?

Đáp: Nhiều người dễ bị lóa mắt trước hình ảnh thanh thoát (cùng các tước vị cao cả) của những vị tăng sư mặc áo cà sa cổ kính trong khung cảnh trang nghiêm (và có khi lộng lẫy, vĩ đại) của những chùa miếu, thiền viện. Vì bị lóa mắt nên họ thu nhận tất cả những gì các sư tăng đưa ra mà không hề tự vấn rằng nó có hữu lý hay không. Vì bị lóa mắt nên họ sao chép các bài viết, học thuộc lòng các lời thuyết giảng của các hòa thượng, đại đức rồi đi đăng dán, rao bày như những món hàng tuyệt mỹ mà không kiểm nghiệm xem thực chất của chúng là gì.

Hỏi: Kế đó?

Đáp: Nhiều người còn lo sợ rằng phê phán sư sãi là "có tội" với Phật pháp. Quan điểm "tội phước" và sự sợ hãi từ đó của họ không cho phép họ phê bình, chỉ trích những gì đáng phê bình, chỉ trích. Theo họ dù biết rằng "thầy" ham muốn tiền bạc nhưng nếu họ cứ dâng cúng tiền bạc cho "thầy" thì họ vẫn sẽ "có phước" như thường. Họ không thấy rằng làm như vậy là họ gián tiếp bôi trét bùn nhơ lên nền tảng Phật Giáo.

Hỏi: Lý do kế?

Đáp: Họ dùng lý lẽ "tùy duyên cứu độ" như là một lý do (tuy nhiên phần đông chỉ là một cái cớ) để dung dưỡng những điều tàn tệ trong Phật Giáo. Tôi đã nói nhiều về vấn đề "tùy duyên cứu độ" nầy trước đây rồi.

Hỏi: Lý do kế nữa?

Đáp: Cái quan niệm sai lầm là "đạo nào cũng tốt giống nhau" hình như đã ăn sâu vào cách suy nghĩ của vô số người. Theo họ thì “có đạo” dù bất cứ dưới đường hướng nào cũng tốt hơn là không có đạo. Quan niệm nầy đào tạo ra những kẻ tự cao, tự đại cho rằng những người vô tôn giáo không có luân lý, đạo đức do đó lý lẽ của họ không đáng để nghe đến. Kể cả những lý lẽ liên quan đến các vấn đề hư thối thực tế trong Phật Giáo.

Hỏi: Kế đó?

Đáp: Có người quan niệm rằng phê bình, chỉ trích không phải là việc làm của họ: Họ quên rằng Phật pháp là một triết lý dựa trên thực hành. Nếu chỉ đọc leo lẻo những câu kinh kệ một cách từ chương mà không áp dụng vào đời sống thì nguyên cái Phật pháp ấy cũng chỉ là vô dụng. Thấy chuyện tồi tệ xảy ra tràn ngập trong cái gọi là đạo của họ mà im hơi lặng tiếng không dám mở miệng ra can thiệp thì đang đi ngược lại cái pháp đó. Không lên tiếng tức là gián tiếp dung dưỡng và quảng bá những chuyện tồi tệ trong Phật Giáo. Thấy người khác phê bình chỉ trích mà cho họ là vô luân lý, vô đạo đức là gián tiếp xem các chuyện tồi tệ đó là hay tốt.

Hỏi: Và?

Đáp: Và có nhiều người sợ mếch lòng người khác.

Hỏi: Nhưng nếu anh không làm gì hết thì tại sao anh nghĩ rằng Phật tử cần phải một điều làm gì đó?

Đáp: Tôi không phải là một Phật tử. Tôi là người ngoại cuộc. Nếu một đống rác lớn nằm giữa sân một cái chùa và Phật tử không ai bận tâm làm gì hết mà còn góp phần bỏ thêm rác vào cho cái đống rác càng ngày càng lớn ra thì đó là vấn đề của Phật tử. Tôi chỉ có thể bình luận về cái đống rác, còn nhiệm vụ hốt rác là của Phật tử chớ không phải của tôi.

Hỏi: Theo anh thì họ nên làm gì?

Đáp: Khi họ thấy cần thiết thì họ sẽ biết họ nên làm gì. Mỗi người có một vị thế khác nhau, nếu họ thấy cần thiết thì họ sẽ làm những gì thích hợp trong hoàn cảnh của họ.

Bài 45: Hữu Hạn vs Vô Hạn


Hỏi: Người ta thường nói vì khoa học "hữu hạn" nên không thể giải thích được cái "vô hạn" của tôn giáo. Anh nghĩ sao?

Đáp: Mỗi khi chữ "khoa học" được nhắc đến trong bài bình luận nào về tôn giáo thì tín đồ vội vã đem lý lẽ “hữu hạn vs vô hạn” ra để ngụy biện cho việc họ không thể dùng cách suy luận trong đời sống hàng ngày để giải thích về cái gọi là "đức tin" của họ. Đây thật ra chỉ là một ngữ thuật khéo léo để làm cho cái lý lẽ trên nghe xôm tụ nhưng thực chất của nó thì rỗng tuếch.

Hỏi: Xin anh cho thêm chi tiết.

Đáp: Tín đồ gán đặt rằng “khoa học là hữu hạn” để cho thấy khoa học không thể giải thích được mọi sự việc trong vũ trụ. Trong khi đó họ tuyên bố rằng “tôn giáo là vô hạn” vì tôn giáo có thể "giải thích" những vấn đề cao siêu hơn trong những lãnh vực huyền bí vô tận mà trí óc con người không thể xác định được. Vấn đề cần thấy ở đây là tôn giáo không "giải thích" được gì cả. Tôn giáo chỉ trùm một tấm chăn với nhãn hiệu "thiêng liêng và huyền bí" lên tất cả những gì nó không giải thích được rồi dạy tín đồ hãy chấp nhận rằng đó là một phạm trù đặc biệt mà lý trí và cách suy luận bình thường không áp dụng được.

Hỏi: Tại sao anh cho lý lẽ kia chỉ là một ngữ thuật?

Đáp: Tại vì họ dựa trên định nghĩa và cách dùng chữ của họ để xây dựng lý lẽ trên. Tôi cũng có thể dùng chữ "hữu hạn" và "vô hạn" một cách khác và cho rằng thật ra thì tôn giáo "hữu hạn" trong khi khoa học "vô hạn".

Hỏi: Bằng cách nào?

Đáp: Khoa học ngay từ đầu đã tự xác định đường hướng của nó là dựa vào hiện tượng để đưa ra giả thuyết rồi cải tiến giả thuyết đó dần cho đến khi có thể áp dụng vào mọi hiện tượng cùng loại trong cùng một môi trường. Bằng cách đó những bí ẩn của vũ trụ có thể được giải mã dần dần từng cái một. Khoa học cũng xác định vũ trụ là vô hạn, do đó khoa học cứ tiến triển không bao giờ ngừng lại và không có biên giới.

Hỏi: Xin anh cho thí dụ.

Đáp: Thí dụ như khi Newton thấy quả táo rơi, ông đặt ra giả thuyết về sức hút của trái đất. Giả thuyết nầy dần dần được hoàn cải để áp dụng cho mọi vật thể trong không gian. Sau đó, thí nghiệm cho thấy các quy luật của Newton chỉ có giá trị cho thế giới vĩ mô và không đúng trong môi trường vi mô: các vật thể cực nhỏ chịu ảnh hưởng bởi các lực khác như điện từ trường nhiều hơn bởi trọng lực. Từ đó các giả thuyết khác được đưa ra để dần dần dẫn đến các quy luật khác áp dụng cho điện tử, nguyên tử, phân tử. Rồi sau đó nữa thì người ta thấy những quy luật nầy cũng không thỏa mãn được một số hiện tượng khác, từ đó vật lý lượng tử ra đời. Và cứ như vậy mà tiếp diễn, khoa học không bao giờ dừng lại.

Hỏi: Do đó?

Đáp: Vì khoa học không bao giờ ngừng tiến triển và không có biên giới, tôi có thể cho rằng khoa học "vô hạn".

Hỏi: Còn tôn giáo?

Đáp: Thí dụ như tín đồ Thiên Chúa Giáo dựa tất cả niềm tin và đời sống của họ lên một quyển sách soạn thảo đã hơn 2000 năm truyền dạy những điều không thay đổi (và không hoàn hảo) của một thượng đế (cũng không hoàn hảo) mà mọi sự việc đều chấm dứt ở đó. Đối với tôi, cả hệ thống lý thuyết của Thiên Chúa Giáo không có gì để phát triển nữa, và không có lối thoát ra khỏi cái ranh giới của họ tự đặt ra cho họ nên do đó có thể được coi là rất "hữu hạn".

Hỏi: Như vậy anh cho rằng tùy cách nhìn của mỗi người mà tôn giáo và khoa học có thể "hữu hạn" hay "vô hạn"?

Đáp: Đúng vậy. Điều đó cho thấy cái lý lẽ "hữu hạn vs vô hạn" trên do các tín đồ đặt ra chỉ có giá trị cho họ và với họ. Cái "vô hạn" duy nhất mà tôi nhận thấy trong tôn giáo là sự biến hóa muôn hình vạn trạng trong những cách tín đồ diễn giảng kinh sách và giáo lý ra để áp dụng vào đời sống cho thích hợp với nhu cầu, hoàn cảnh và cách biện luận của họ.

Hỏi: Anh có quan tâm đến việc khoa học bị coi là “hữu hạn” hay không?

Đáp: Khoa học có đường hướng và mục đích của khoa học. Sự kiện một nhóm người gọi nó là “hữu hạn” hay “vô hạn” chẳng có ảnh hưởng gì cả đến đường hướng và mục đích nầy. Tuy nhiên, theo tôi thì như thường lệ các tín đồ rất độc đoán và thiên vị trong lý lẽ "hữu hạn vs vô hạn" của họ.

Hỏi: Độc đoán và thiên vị ra sao?

Đáp: Tín đồ cho rằng những đức tin của tín ngưỡng là "vô hạn" và đời sống hàng ngày là "hữu hạn". Họ cũng cho rằng các cách lý luận "hữu hạn" không thể nào áp dụng được trong lãnh vực "vô hạn". Tuy vậy, họ không ngần ngại đem những gì "vô hạn" áp dụng thường xuyên vào đời sống "hữu hạn" hàng ngày.

Hỏi: Thí dụ?

Đáp: Thí dụ như Kinh Thánh được tín đồ dùng như là căn bản của kiến thức và đạo đức cần phải áp dụng lên tất cả mọi người trong xã hội. Tôi không cần quan tâm đến việc một nhóm người tin rằng vũ trụ được một thần linh tạo ra 6000 năm về trước hay phương pháp định tuổi vật hóa thạch dùng carbon chỉ là sản phẩm ngụy tạo; tuy nhiên tôi không chấp nhận việc họ muốn đem các đức tin vô nghĩa nầy vào dạy cho trẻ con trường công lập như là những kiến thức phổ thông thường thức. Tôi không cần quan tâm đến việc một nhóm người cho rằng đồng tính luyến ái là dơ bẫn và tội lỗi, ngừa thai là tương đương với sát nhân; tuy nhiên tôi không chấp nhận việc họ muốn dựa trên các đức tin thủ cựu và nông cạn này để làm thành những đạo luật của quốc gia.

Hỏi: Anh đang nói về Thiên Chúa Giáo, còn Phật Giáo thì sao?

Đáp: Vấn đề của tôi với Phật Giáo thì khác hẳn. Tôi không có gì chống đối việc sử dụng lý thuyết Phật Giáo vào đời sống hàng ngày. Nhân sinh quan của bản thân tôi chịu ảnh hưởng lớn bởi triết lý Phật Giáo. Tôi chỉ có nhiều vấn đề với cách thức nhiều người áp dụng lý thuyết Phật Giáo vào đời sống. Như đã nói, trong Phật Giáo hiện tại có vô số tăng sư giảng dạy tín đồ những phương cách tín ngưỡng mà tôi chỉ có thể gọi là mê tín dị đoan với mục đích không gì hơn là để lường gạt, bóc lột. Và có vô số Phật tử vô ý thức tiếp tay truyền bá các mê tín dị đoan nầy.

Hỏi: Thế thì thật ra anh không có vấn đề gì lắm với Phật Giáo về việc “hữu hạn vs vô hạn” nầy?

Đáp: Có thể nói là vậy. Cũng cần nói thêm là lối lý luận “hữu hạn vs vô hạn” nầy chỉ thường được sử dụng bởi tín đồ Thiên Chúa Giáo, nhất là trong các cuộc tranh luận về “tôn giáo vs khoa học”. Tuy nhiên tôi đã gặp người tự xưng là thâm hiểu triết lý Phật Giáo nhưng cũng phơ phẩy nó như là một kiến thức đắc ý.