Bài 64: Những câu hỏi không có câu trả lời


Tôi có một vài câu hỏi mà chưa ai bao giờ trả lời thỏa đáng cả.  

Nhân loại đã chứng kiến bao nhiêu tôn giáo và nền tín ngưỡng khác nhau. Tất cả những tôn giáo và nền tín ngưỡng nầy tôn thờ nhiều thượng đế khác nhau, diễn giải về vũ trụ nhiều cách khác nhau và đều quả quyết rằng chỉ có chân lý của họ là tuyệt đối và tối thượng. Vô số những tôn giáo và niềm tín ngưỡng nầy đã thành hình, thịnh vượng rồi tàn lụi. Những tôn giáo mà chúng ta hiện có ngày nay chỉ mới hiện diện trong khoảng vài ngàn năm nay mà thôi. Chỉ là một cái chớp mắt trong lịch sử con người.  

Các câu hỏi của tôi là:  

1/ Dựa vào dữ kiện trên, làm sao tín đồ của bất cứ tôn giáo nào có thể tin rằng niềm tín ngưỡng của họ là “thật”?  

2/ Và nếu họ cho là niềm tín ngưỡng của họ là “thật” hay “đúng” thì có phải họ cũng cho những niềm tín ngưỡng, những tôn giáo khác đều là “giả” và “sai”?  

3/ Nếu chỉ có thể có một tôn giáo “thật” và “đúng”, và chỉ một mà thôi, và nếu tất cả tôn giáo đều giành phần họ là “thật” và “đúng” thì chẳng phải là gần như chắc chắn tất cả đều “giả” và “sai” hay sao?  

Bài 63: Người Vô Thần trong Chiến Hào


Nhiều tín đồ nhắc đến câu “Không có kẻ vô thần nào ở dưới chiến hào cả” (“There are no atheists in foxholes”) khi thảo luận về “đức tin”.

Ý họ muốn nói là trong những hoàn cảnh hiểm nghèo, vô vọng thì con người mới thấy mình nhỏ bé, yếu đuối, bất lực và từ đó mới cầu khẩn Thượng Đế cứu giúp và mới tin là có Thượng Đế.

Câu nầy thật ra rất đúng đối với rất nhiều người. 

Tuy nhiên, câu trên không thể nào dùng để chứng minh rằng ý niệm “vô thần” là sai lầm hay người vô thần là nông cạn, yếu đuối cả.

Câu trên chỉ diễn tả một bản chất yếu đuối tự nhiên của con người. Khi đứng trước hiểm nguy, bản năng sinh tồn trong con người làm cho họ cần và muốn được bảo vệ, cứu giúp. Trong những trường hợp vô vọng, họ có khuynh hướng nghĩ đến cá thể siêu nhiên nào đó có quyền lực vô cùng vĩ đại hơn họ. 

Thật ra, câu trên chứng tỏ rằng ý niệm “Thượng Đế” (và từ đó, sự thành hình của tôn giáo) phát xuất từ sự sợ hãi mà ra.

Hitler đã từng nói với Giám Mục Michael von Faulhaber ở Bavaria (1936) rằng: “Người ta không thể hiện hữu không có niềm tin vào Thượng Đế. Các binh sĩ nằm bốn, năm ngày chịu đựng hỏa pháo nặng nề cần một sự chống chỏi bằng tôn giáo”.

“Một sự chống chỏi bằng tôn giáo”. Điều nầy cho thấy Hitler là một người rất tinh khôn khi đưa ra và dùng nhận xét trên trong việc quản lý tinh thần binh sĩ. Tuy nhiên, một niềm tin xuất phát từ sự sợ hãi chỉ là một dụng cụ được tạo ra do nhu cầu cần thiết. Nó không phải là một niềm tin xuất phát chân chính từ trái tim, nó không phải từ lý tưởng tâm linh cao quý. Một số người vô thần ví đức tin trong tôn giáo như là một cái nạng (để chống chỏi); nếu sự ví von đó có thích hợp thì có lẽ đây là một trường hợp mà nó có thể áp dụng xác thực nhất. Các tín đồ đáng lẽ không nên quảng bá sự so sánh đức tin của họ với một cái nạng (vì chính họ đang vô tình làm điều nầy khi nêu ra câu “không có kẻ vô thần trong chiến hào”).

Hơn nữa, câu trên không đúng với tất cả mọi người. Có rất nhiều trường hợp những tín đồ sùng đạo suốt đời cho đến một ngày nào đó lâm cảnh đau khổ cùng cực chợt tỉnh ngộ ra rằng nếu thật sự có Thượng Đế yêu thương bảo bọc họ như đã hứa hẹn thì họ đã chẳng nằm trong cảnh ngộ đó. Có những chiến binh sống sót sau các trận chiến kinh hoàng chợt thấy rằng không có Thượng Đế từ bi toàn năng nào lại có thể để cảnh chết chóc thê thảm chung quanh họ xảy ra. Những người nầy từ đó quẳng bỏ đi cái ảo tưởng về Thượng Đế mà họ đã ôm ấp suốt đời họ.

Khi nào có ai đưa ra câu “Không có kẻ vô thần nào ở dưới chiến hào cả” để tranh luận cho ý niệm “đức tin” thì có lẽ họ cần nên được nhắc rằng “Có những người không cần phải nằm dưới chiến hào mà vẫn suốt đời luôn luôn co ro kinh sợ”

Bài 62: Cầu Nguyện


Hỏi: Có câu nói “không có kẻ vô thần nào ở trong chiến hào cả”. Anh nghĩ sao? 

Đáp: Rất có thể đúng. Tôi có thể tưởng tượng được nỗi sợ hãi khủng khiếp của những người nằm trong chiến hào chịu đựng đạn pháo kích nổ tới tấp chung quanh họ.

Hỏi: Anh nghĩ nếu anh nằm trong hoàn cảnh đó thì anh cũng sẽ cầu Trời khẩn Phật hay không?

Đáp: Tôi không biết. Tôi chưa ở trong tình thế kinh khiếp cực độ như vậy. Tuy nhiên, nếu vì sợ hãi cùng cực mà tôi ngả qua cầu khẩn Trời Phật trong lúc đó để xin cứu mạng thì chẳng qua đó là vì phản xạ sinh tồn tự nhiên. Có thể trong lúc sợ hãi tột độ thì trí óc tôi cũng sẽ lý luận rằng “Nếu cầu khẩn có hiệu nghiệm dù xác suất nhỏ cách mấy cũng còn hơn không. Cứ cầu khẩn đi, không có hại gì cả”. Đây là lối lý luận của nhiều tín đồ, Phật Giáo cũng như Thiên Chúa Giáo.

Hỏi: Nếu sống sót thì sau đó anh sẽ nghĩ gì?

Đáp: Tôi nghĩ là tôi sẽ hỗ thẹn với chính tôi.

Hỏi: Tại sao?

Đáp: Tại vì 1/ Tôi đã làm một điều trái ngược lại với nguyên tắc và quan điểm sống của tôi, và 2/ Tôi biết điều tôi làm là vô ích.

Hỏi: Tại sao vô ích?

Đáp: Vô ích là vì nếu tôi chết thì rõ ràng là không ai cứu tôi cả. Còn nếu tôi sống sót thì tôi biết tôi cũng sẽ kết luận rằng đó rất có thể chỉ là một điều ngẫu nhiên mà thôi, bất kể xác xuất sống chết có chênh lệch bao nhiêu đi nữa. Qua cơn sợ hãi tột độ thì con người thường suy luận một cách chính chắn hơn. Và tôi biết rằng dù gì đi nữa thì tôi cũng không thể dựa vào sự kiện đó để tin là Trời Phật đã có cứu mạng tôi hay không.

Bài 61: Phép Mầu


Có những người quả quyết rằng họ có lúc thấy đôi mắt hay cánh tay của tượng ảnh Phật Bà hay Đức Mẹ nào đó “thoáng” di động trong khi họ quỳ cầu nguyện. Họ cho rằng Phật Bà hay Đức Mẹ đã ứng hiện như thế để báo cho họ biết rằng lời cầu nguyện của họ được nghe nhận.

Khi một người cuồng nhiệt tin tưởng, tập trung tâm thần chờ đợi và mong mỏi một hiện tượng gì đó xảy ra thì sau một thời gian tâm thức của họ dẫn ngũ quan họ đến một tình trạng tự kỹ ám thị đủ để tạo cho họ ấn tượng là chuyện đó “dường như” xảy ra.

Sự kiện tâm sinh lý nầy giải thích các câu chuyện trên. Điểm đáng chú ý là các sự “di động” trong những hiện tượng “phép mầu” loại nầy đều luôn luôn được diễn tả là “thoáng” qua mà thôi. Những sự “di động” nầy không bao giờ rõ ràng và lâu dài đủ để ai có thể nhìn thấy được chắc chắn hay ghi nhận lại hẳn hòi bằng máy quay phim.

Những hiện tượng nầy cũng có thể “chứng kiến” được bởi một đám đông tín đồ cùng một lúc.

Khi một đám đông người đứng chiêm ngưỡng say sưa đắm đuối trước một thần tượng của họ thì tiềm thức họ thường chia sẻ và chịu ảnh hưởng lẫn nhau bởi những cảm nghĩ, cảm tưởng và ấn tượng chung liên quan đến thần tượng đó.

Chỉ cần một người trong đám đông ấy tuyên bố rằng họ thấy cánh tay của bức tượng “thoáng” di động chẳng hạn thì điều đó tác động lên tâm thức của những người chung quanh mạnh mẽ và càng gợi thêm cho họ dễ “thấy” điều đó hơn.

Khi vài ba người trong đám đông ấy tuyên bố rằng họ có thấy sự di động nầy thì hầu như mọi người đều chấp nhận là điều đó có thật, và sẽ xảy ra. Bản tính tự nhiên của con người thích những chuyện ly kỳ, lạ lùng. Và nếu họ là người chủ động trong những chuyện ly kỳ, lạ lùng nầy thì còn hay hơn nữa. Hầu như mọi người trong đám đông lúc bấy giờ đều sẽ cố gắng hết sức để thuyết phục chính họ, và người khác, là họ cũng “chứng kiến” được phép mầu nầy. Những người không thấy sự di động gì cả cũng sẽ nghi ngờ sự “thiếu sót” của mình, rồi sẽ dần dần tự thuyết phục chính họ là đã “dường như” có thấy chuyện ấy xảy ra. Những ai can đảm đủ để tuyên bố rằng họ không thấy gì hết sẽ bị gạt bỏ qua một bên. Chỉ có những mẩu chuyện xác nhận phép mầu nầy được kể đi kể lại, với chi tiết được thêm thắc một cách thích ứng. Không bao lâu, những mẩu chuyện và niềm tin nầy sẽ củng cố lẫn nhau và tạo thành một “sự thật” được xác nhận bởi tất cả mọi người.

Dĩ nhiên là không phải tất cả những trường hợp ảo ảnh tập thể như trên đều liên quan đến tôn giáo và tín ngưỡng.

Vài năm về trước trên báo ở một thành phố nọ đăng có một con cá sấu lớn của một sở thú vừa sút chuồng trốn thoát mất. Sở thú nầy nằm trên bờ một con sông thường ngày có nhiều thuyền bè giải trí qua lại. Trên sông vùng nầy xưa nay không hề có cá sấu. Trong mấy tuần lễ sau bài báo nầy, có hàng chục vụ người ta gọi cảnh sát quả quyết rằng họ thấy một con cá sấu đang bơi trên sông “ở đàng xa”. Có khi một nhóm 5, 7 người đều thấy chuyện nầy cùng một lúc. Hơn một tháng sau một nhân viên trong sở thú tình cờ nghe tiếng động lạ trong một nhà kho đang khóa cửa kín. Khi mở cửa kho ra, người ta thấy con sấu nầy đang ở trong đó, mạnh khỏe như thường tuy là rất đói bụng. Sau khi điều tra người ta mới biết rằng ngày con sấu trốn ra khỏi chuồng, nó bò vào trong nhà kho nầy. Một nhân viên sở thú hôm đó tình cờ đi ngang quyết định khóa cửa kho lại vì sợ trộm vào đánh cắp những dụng cụ chứa trong đó. Cửa kho đã bị khóa hơn một tháng, trong suốt thời gian đó con sấu bị nhốt bên trong nhưng không ai biết. Tin nầy được phổ biến ra trên báo địa phương. Lập tức từ đó trở đi không còn ai thấy con sấu nào bơi trên sông nữa cả.

Đây là những trường hợp mà lòng tin tạo ra ảo ảnh và ảo ảnh củng cố niềm tin.

Bài 60: Tiêu chuẩn kiểm nghiệm của Giáo Hội về "phép mầu"


Đối với Giáo Hội, nếu một người đến cầu nguyện ở Lourdes và sau đó họ khỏi bệnh và sự khỏi bệnh đó "không thể giải thích được bằng những kiến thức hiện đại " (cộng thêm một số giáo luật nữa) thì đó là “phép mầu” do Đức Mẹ tạo ra. Nhận xét của tôi về vấn đề nầy như sau: 

- Thứ nhất, Giáo Hội dùng kiến thức khoa học để quyết định điều kiện "không thể giải thích được bằng những kiến thức hiện đại" nầy có thỏa hay không. Điều kiện nầy rất nghiêm khắc và rất khó để thỏa được. Theo tôi đây là một chi tiết khá lý thú.
 
- Thứ hai, họ không nghĩ rằng những gì ngày nay khoa học không giải thích được rất có thể sẽ được giải thích (cũng bằng khoa học) trong tương lai. Lịch sử đã chứng minh điều nầy vô số lần.

- Thứ ba, từ căn bản đây là một lối lý luận được xếp loại vào "ngụy biện" trong Luận Lý Học ("vì sự kiện A xảy ra trước sự kiện B nên A là nguyên nhân của B"). Ngay cả nếu thật sự "không thể giải thích được" tại sao một người được khỏi bệnh, sự kiện người đó đã có cầu nguyện Đức Mẹ trước đó cũng vẫn không đủ để kết luận là “Đức Mẹ đã ban phép mầu làm người đó khỏi bệnh”. Có nhiều lý do khác có thể làm một người hết bệnh. Có thể vì thuốc men hay những phương pháp chữa trị y khoa của người ấy lúc trước có tác dụng chậm nên sau khi cầu xin mới hiệu nghiệm. Có thể vì lúc trước chẩn đoán sai lầm nên người ấy thật ra không mang bệnh nan y như họ nghĩ. Có thể vì họ thay đổi môi trường sinh sống (bớt uống rượu, hút thuốc, ăn uống đàng hoàng hơn, v.v.) nên tạo ra sự thay đổi trong các tác động tâm sinh lý của riêng họ và làm tăng cường sức đề kháng trong cơ thể họ. 

Đó là chưa kể trường hợp là nếu đã công nhận có thế giới vô hình thì tại sao Giáo Hội không nghĩ rằng cũng có thể là nhờ một thần linh hay ma quỷ gì khác không liên quan gì đến Đức Mẹ đã làm cho họ hết bệnh!?

Bài 59: Lourdes (tiếp theo)


Theo định nghĩa, "phép mầu" là một sự kiện xảy ra trái ngược với kiến thức và kinh nghiệm hàng ngày của mọi người. Những chuyện đáng lẽ không thể nào xảy ra nhưng lại xảy ra, đó là phép mầu. Do đó, những chuyện nào thường ngày vẫn có thể xảy ra (mặc dù không nhiều lắm, mặc dù có khi không thể giải thích thỏa đáng được) thì không phải, và không nên gọi là "phép mầu". 

Hiện tượng người bệnh tê liệt mà đi đứng trở lại không có gì huyền bí cả. Đó là vì:

- Thứ nhất, số người lành bệnh sau khi đến Lourdes (dựa trên số lượng nạng gỗ bỏ lại) rất nhỏ so với tổng số người đến cầu khẩn. Tỉ lệ nầy cũng chỉ tương đương với tỉ lệ của bệnh nhân tê liệt bình phục nhờ các phương pháp y khoa thông thường như vật lý trị liệu, giải phẩu, v.v.

- Thứ hai, hầu hết những người đến cầu khẩn ở Lourdes cũng đều đồng thời trị liệu bằng những phương pháp y khoa thông thường. (Có tín đồ nào khi bị bệnh - từ nhức đầu cho đến ung thư – mà chỉ hoàn toàn cầu nguyện chớ chẳng hề đi đến bác sĩ không?)

- Thứ ba, hiện tượng tâm lý gọi là “placebo effect” (mà trong trường hợp nầy tạm phỏng dịchlà “tự kỷ ám thị” ) có thể giúp bệnh nhân sau khi đến Lourdes được hồi phục nhanh chóng hơn bình thường.

Tóm lại, tất cả các cái gọi là “phép mầu” Đức Mẹ chữa bệnh ở Lourdes đều là những trường hợp mơ hồ, không rõ rệt. Các bệnh “được Đức Mẹ chữa khỏi” đều là những bệnh như ung thư, lao phổi, đau gan, đau thận, nhức đầu, đau nhức, tê liệt, v.v. tức là những loại bệnh mà có nhiều khi người ta có thể bình phục nhờ vào y khoa hay các phương cách trị liệu khác.


Và cũng có thể là vì không có Đức Mẹ cũng như không có phép mầu gì đã xảy ra bao giờ ở Lourdes cả.

Bài 58: Lourdes


Phép lạ được định nghĩa xảy ra khi một bệnh nhân qua một quá trình cầu nguyện, hay đến thăm một thánh tích, hay sờ một thánh vật, hay uống nước thánh, v.v. và được khỏi bệnh trong khi bác sĩ y khoa không thể giải thích được lý do.

Một trong những hiện tượng phép lạ chữa lành bệnh nổi tiếng nhất thế giới là hiện tượng Đức Mẹ hiện ra ở Lourdes, một tỉnh nhỏ dưới chân núi Pyrenees. Năm 1858, khi Lourdes còn là một khu nghèo khổ của miền tây nam nước Pháp, một cô bé 14 tuổi tên là Bernadette Soubirous (mà sau nầy đã được Tòa Thánh phong là Thánh Bernadette) kể lại là Đức Mẹ đã hiện ra và chỉ cô tìm được nguồn nước thánh trong một hang động gần đó. 

Mặc dù từ đó đến giờ đã có vô số người hành hương lũ lượt đến xin chữa bệnh bằng nước trong hang nầy, không có trường hợp nào được giới y khoa kiểm chứng và chấp nhận hoàn toàn. Trong số khoảng 6 triệu người hằng năm đến xin chữa bệnh, sau hơn 150 năm chỉ có 66 trường hợp được Tòa Thánh chính thức công nhận là “không thể giải thích được” và do đó là “phép lạ”. Điều nầy có nghĩa là khoảng gần 14 triệu người đến cầu xin Đức Mẹ thì chỉ có một người được khỏi bệnh. Nói cách khác, tỉ lệ nầy là khoảng 0.000007%, một tỉ lệ có thể được coi là gần như zero.

Nếu Đức Mẹ có thật, đã hiện ra thật, và thật sự ban phát phép mầu thì tại sao tỉ lệ người được chữa lành bệnh mà Tòa Thánh chính thức công nhận lại cực kỳ nhỏ đến độ vô nghĩa như vậy?

Trong một cuộc điều tra và phân tích dữ kiện gần đây, người ta thấy rằng tổng số tai nạn giao thông chết người trong các cuộc du hành của khách hành hương từ khắp thế giới trên đường đi đến Lourdes mỗi năm còn nhiều gấp mấy lần hơn so với số phép mầu của Đức Mẹ đã ban bố để cứu mạng họ.

Ngay chính Bernadette là người mang bệnh lao xương từ nhiều năm cũng đã chết vì bệnh nầy lúc 35 tuổi. Điều nầy cho thấy Đức Mẹ, nếu đã có hiện ra cho cô thấy, cũng đã chẳng trị cô khỏi bệnh hay cứu mạng cô.

Hơn nữa, là tất cả những trường hợp lành bệnh ở đây đều có thể được giải thích bằng lý do khoa học. Có thể là vì những phương pháp trị liệu y khoa có tác dụng chậm nên chỉ bắt đầu hiệu nghiệm sau khi bệnh nhân đã ngưng chữa trị. Cũng có thể là vì chẫn bệnh sai ngay từ ban đầu, hay là vì tự kỷ ám thị, v.v. mà những chứng bệnh (thường là trong nội tạng, thí dụ như ung thư) có vẻ như được chữa khỏi. Nhiều trường hợp tự lành bệnh tương tự cũng đã xảy ra đến những bệnh nhân khác trên thế giới không hề biết gì đến hiện tượng Đức Mẹ ở Lourdes nầy. 

Khi nói về bệnh tật làm hạn chế khả năng đi đứng, rất nhiều người tường thuật là mặc dù trước đây họ cần phải chống gậy nạng, sau khi đến viếng Lourdes họ có thể bỏ gậy nạng ra mà tự đi đứng được. Có vô số những cây gậy nạng đã được bỏ lại Lourdes như là bằng cớ của sự lành bệnh của họ. Một nhận xét đáng lý thú là chưa hề có một chân giả hay tay giả nào được bỏ lại cả! Có nghĩa là chưa bao giờ có trường hợp một người bị cụt tay hay cụt chân đã được ơn Đức Mẹ làm cho tay hay chân của họ mọc trở lại cả. 

Nếu Đức Mẹ có thật, đã hiện ra thật, và thật sự ban phát phép mầu thì tại sao chưa bao giờ một người cụt tay cụt chân nào trong 150 năm nay được Đức Mẹ đoái hoài đến?

Bài 57: Cầu Khẩn (tiếp theo)


Hỏi: Nhưng có rất nhiều thí dụ cho thấy nếu cầu nguyện với tấm lòng thành khẩn thì rất linh ứng. 

Đáp: Đó là một thí dụ nữa về hiện tượng “thu thập dữ kiện một cách thiên vị”.  Lúc nào cũng có 4 trường hợp: 1/ một người cầu nguyện và thành công, 2/ một người cầu nguyện nhưng vẫn không thành công, 3/ một người không cầu nguyện nhưng vẫn thành công, và 4/ một người không cầu nguyện và không thành công. Nếu tất cả các điều kiện chung quanh một sự việc đều giống nhau thì xác suất xảy ra của 4 trường hợp nầy tương đối ngang ngửa nhau. Tuy vậy, những người tin vào việc cầu khẩn thường chỉ chú trọng, nhận thấy, ghi nhớ và phổ biến lại những  gì có vẻ tương ứng với niềm tin của họ mà thôi (trường hợp 1). Vì những trường hợp khác (2, 3 và 4) không nằm trong cách nhìn của họ nên họ thường không chú trọng, nhận thấy, ghi nhớ hay phổ biến lại. Do đó chỉ có những mẩu chuyện hỗ trợ quan niệm "cầu nguyện có hiệu quả" được truyền đi dạy lại với nhau từ đời nầy sang đời khác.

Hỏi: Nhưng tôi nghe rất nhiều câu chuyện về người ta cầu nguyện Đức Mẹ hay Phật Bà rồi được trúng vé số. Chắc chắn và rõ ràng như vậy.

Đáp: Những chuyện đó có thật. Nhưng xảy ra trong một thời gian dài và liên quan đến nhiều vụ xổ số khác nhau. Nên nhớ rằng: 1/ Mỗi vụ xổ số hầu như đều có người trúng độc đắc, và 2/ vô số (hầu hết) người mua số đều vái van đấng thiêng liêng nào đó giúp đỡ họ trúng số. Do đó tỉ lệ mà một người van vái rồi trúng độc đắc rất lớn, hầu như mỗi vụ xổ số đều xảy ra. Những người nầy kể lại thân nhân họ “Đức Mẹ linh thiêng lắm, tôi cầu nguyện và Đức Mẹ cho tôi trúng độc đắc”. Thân nhân họ sẽ tin họ 100% vì rõ ràng là người đó có trúng độc đắc. Thân nhân tiếp tục đồn đãi ra rộng hơn. Nhiều lần như vậy. Thế là ai cũng tin hết. Tuy nhiên họ quên rằng mỗi vụ vé số cũng có hàng triệu người khác van vái giống như vậy mà không ai trúng độc đắc cả.

Hỏi: Vẫn có nhiều người tin chắc chắn rằng cá nhân họ được phù hộ bởi một đấng thiêng liêng đặc biệt như Phật Bà hay Đức Mẹ hay Phật Di Lặc hay Thánh Phao Lồ, v.v. trong suốt đời họ.

Đáp: Nếu họ làm một thí nghiệm nhỏ thì họ có thể biết chắc là đấng thiêng liêng đặc biệt đó có thật sự phù hộ trong đời họ hay không.

Hỏi: Thí nghiệm ra sao?

Đáp: Rất giản dị: chỉ cần giữ một quyển sổ ghi chép tất cả mỗi lần họ cầu xin đấng thiêng liêng nầy về bất cứ việc gì mà xác xuất thành công bằng với hoặc không lớn hơn xác xuất thất bại. Sau đó họ cũng cần ghi chú rõ thêm là lời cầu xin của họ có hiệu nghiệm hay không. Thật ra thì những người tin vào việc cầu khẩn cũng đều nên ghi sổ lại tương tự tất cả mỗi lần họ cầu xin bất cứ đấng thiêng liêng nào. Sau một khoảng thời gian ngắn thì họ có thể so sánh lại và tự kết luận rằng cầu khẩn có đem lại kết quả họ mong muốn hay không.

Hỏi: Tại sao chỉ ghi chú khi cầu xin những việc gì mà xác xuất thành công bằng với hoặc không lớn hơn xác xuất thất bại?

Đáp: Tại vì trong các trường hợp đó mới có thể chứng minh rằng lời cầu nguyện của họ linh ứng. Những việc mà xác xuất thành công lớn hơn xác xuất thất bại thì số lần điều họ cầu xin xảy ra sẽ đương nhiên có khuynh hướng lớn hơn số lần không xảy ra.

Bài 56: Cầu Khẩn


Hỏi: Anh nghĩ gì về những chuyện cầu nguyện, thí dụ như xin Phật Chúa cho tai qua nạn khỏi hay được may mắn trong việc làm ăn, tình duyên?
 
Đáp: Cầu nguyện mang đến hy vọng, nhất là trong những lúc vô vọng. Mặc dù chỉ là ảo tưởng.

Hỏi: Tại sao anh nghĩ cầu nguyện chỉ là ảo tưởng?

Đáp: Tại vì trên thực tế, nói chung thì việc cầu xin mua mau bán đắt hay tai qua nạn khỏi không có hiệu quả.

Hỏi: Tại sao anh nói không có hiệu quả? Thí dụ?

Đáp: Thí dụ, có biết bao nhiêu người biết bao nhiêu lần trong đời họ mỗi khi mua vé số đều vái “ông Địa cho con trúng thì con sẽ cúng nải chuối”? Và có bao nhiêu lần họ trúng?

Hỏi: Tôi muốn nói về cầu xin những chuyện quan trọng hơn.

Đáp: Thì lấy việc đi biển chẳng hạn, khi một chiếc tàu gặp giông bão dữ dội thì mọi hành khách đều cầu nguyện Trời, Phật, Chúa phù hộ cho họ. Thế thì tại sao có chiếc tàu qua khỏi giông bão, tại sao có chiếc tàu khác chìm? Trong một chiếc tàu chìm thì mọi người đều cầu nguyện, thế thì tại sao có người được vớt hay bơi đến bờ còn có người chết đuối? Nếu việc cầu nguyện có linh ứng thì tại sao chỉ linh ứng với một số chiếc tàu mà không linh ứng với tất cả những chiếc tàu khác? Nếu việc cầu nguyện có linh ứng thì tại sao chỉ linh ứng với một số người mà không linh ứng với tất cả những người khác?

Hỏi: Có thể vì nhiều lý do khác liên quan đến số mạng hay nghiệp phước của mỗi người chăng?

Đáp: Nếu đã tin là số mạng hay nghiệp phước của mỗi người sẽ "quyết định" việc người đó sẽ chết chìm trong một vụ đắm tàu hay không thì  tại sao còn cầu khẩn Phật Chúa làm gì? Những người cầu khẩn nầy hoặc là đang mâu thuẩn với chính họ hoặc là rất tự tôn.

Hỏi: Tại sao tự tôn?

Đáp: Tự tôn là vì tuy tin rằng luật nhân quả dựa trên phước nghiệp áp dụng rành rọt cho tất cả mọi sinh linh như vậy rồi nhưng họ vẫn nghĩ là Phật Trời sẽ ra tay can thiệp, sửa đổi luật nầy chỉ vì lời cầu xin của họ. 

Hỏi: Luật nhân quả và quan niệm phước nghiệp chỉ áp dụng cho tín đồ Phật Giáo, không áp dụng cho Thiên Chúa Giáo.

Đáp: Tín đồ Thiên Chúa Giáo cũng tự tôn là vì họ tuy tin rằng Chúa Trời đã biết rõ mọi việc quá khứ, tương lai và đã an định tất cả những gì phải xảy ra cho mỗi người rồi nhưng cho rằng Chúa Trời cũng sẽ thay đổi ý của Ngài chỉ vì lời cầu xin của họ.

Hỏi: Nhưng nếu họ thật sự chân thành hối lỗi về những điều ác trong quá khứ của họ thì sao?

Đáp: Đó là lối suy luận của Thiên Chúa Giáo: dù đã phạm tội lỗi gì ghê gớm cách mấy đi nữa nhưng nếu chân thành hối lỗi trước  Thiên Chúa thì sẽ được tha thứ. Tôi không chấp nhận nổi lối suy luận nầy (và tôi tin rằng chính lối suy luận nầy đã hấp dẫn rất nhiều người gia nhập Thiên Chúa Giáo).  Tuy vậy, ngay cả nếu bỏ chuyện đó qua một bên thì vấn đề vẫn là: khi tất cả mọi người đều cầu nguyện nhưng tại sao có người được việc, có người không? Nếu cho là có Phật Chúa hay đấng thiêng liêng nào đó thì tại sao có người cầu khẩn và được cứu độ, tại sao có người bị bỏ rơi?

Hỏi: Có thể vì có người cầu nguyện thành khẩn hơn người khác chăng?

Đáp: Đó là cách suy nghĩ rất kiêu ngạo khi một người dám cho rằng họ cầu nguyện thành khẩn hơn người khác. Tôi biết có người còn cho rằng lời cầu nguyện của họ linh nghiệm vì họ tin tưởng và thờ cúng thành khẩn hơn người khác. Đó là tại sao tôi cho rằng cầu xin Phật Chúa ban cho điều tốt lành hay cứu độ tai qua nạn khỏi là một hành động vừa tự tôn vừa tự ti cùng một lúc.

Bài 55: Tượng Phật Chúa Khóc hay Chảy Máu (tiếp theo)


Những cuộc điều tra cho thấy việc tạo dựng ra các “phép mầu” giả mạo loại nầy không khó khăn gì cả. Có 2 phương pháp thường được dùng.

Phương pháp thứ nhất rất thô sơ và giản dị: người ta lén bôi máu, nước mắt hay dầu lên mặt pho tượng ban đêm hay trong lúc vắng người. Phương pháp nầy thường rất dễ bị phát giác và các trường hợp “phép mầu” nầy do đó thường không tồn tại lâu dài lắm.

Phương pháp thứ hai tinh vi hơn nhưng hầu như ai khéo tay một chút đều cũng làm được. Các tượng Đức Mẹ hay Phật Bà thường làm bằng thạch cao hay sứ mỏng, rỗng ruột và được bao bọc bởi một lớp men hay sơn bên ngoài. Các chất lỏng như nước, dầu thường có thể thấm qua lớp thạch cao hay sứ mỏng nầy khá dễ dàng. Tuy vậy lớp sơn men bên ngoài pho tượng không thấm nước. Do đó nếu người ta bơm một chất lỏng vào trong lòng pho tượng qua một lỗ nhỏ trên đầu chẳng hạn thì lớp sơn men sẽ giữ chất lỏng nầy nằm bên trong một thời gian rất lâu. Nếu có ai tạo ra một vết trầy rất nhỏ xuyên qua lớp sơn men ở khóe mắt của pho tượng chẳng hạn, chất lỏng bên trong sẽ tươm ra từ từ gây ấn tượng một pho tượng đang khóc. Phương pháp nầy cũng có thể áp dụng rất thành công cho những pho tượng bằng gỗ hay nhiều chất thấm nước tương tự.

Việc ngụy tạo các phép mầu loại nầy hiện diện khắp nơi. Có nhiều trường hợp các tu sĩ bề ngoài đầy đức độ, đạo hạnh cũng đã bị bắt gặp quả tang là thủ phạm các vụ ngụy tạo phép mầu và bị trừng phạt bởi Giáo Hội lẫn pháp luật.

Tuy vậy vô số người vẫn không thể cưỡng nổi sự cám dỗ khi những hiện tượng “thiêng liêng” được đồn đãi đến tai họ. Họ không thể nào thấy được sự kiện giản dị rằng tại sao những đấng thiêng liêng như Phật Bà hay Đức Mẹ (nếu hiện hữu) đã xuất thế lên trời từ ngàn năm trước mà ngày nay thỉnh thoảng lại còn giáng thân xuống trong một số pho tượng thô sơ để nhỏ vài giọt nước mắt vớ vẩn để làm gì? Nếu có một thông điệp cần gởi cho nhân loại thì tại sao họ không hiện ra với hào quang chói lòa ngay giữa công trường chính của thủ đô những cường quốc lớn mạnh nhất để rao giảng mà lại chọn một phương pháp mơ hồ, ấm ớ như vậy?

Ngày nào còn những tín đồ tin vào những chuyện nầy thì ngày đó vẫn còn những tượng Phật Chúa chảy máu hay nước mắt. Cũng không khác gì lúc nào còn người mua một loại hàng gì trong chợ thì sẽ vẫn còn người bán loại hàng ấy.