Bài 77: Đống Rác


Có một gia đình nọ trong xóm ăn ở dơ dáy, bừa bãi. Họ bỏ rác của họ đầy trước sân trong phạm vi vòng rào nhà họ. Ngày nầy tháng nọ, đống rác chồng chất lên hôi thối. Có người trong xóm chủ trương "đèn nhà ai nấy sáng", có người nễ nang chủ nhà, có người bản tính không lưu tâm đến vấn đề vệ sinh. Những người nầy do đó không muốn, không dám, không thấy cần can dự vào việc nầy.
 
Tôi chỉ là người đi đường qua ngang, tôi không ngại lên tiếng về sự hiện hữu của đống rác và về quan niệm vệ sinh cần thiết. Đó là vì nó là một điều chướng mắt, và cũng làm ảnh hưởng đôi phần đến bầu không khí của cả xóm. 

Tôi không nghĩ tôi, hay ai khác, có thể thay đổi truyền thống lẫn phong cách xả rác của gia đình đó. Chủ nhà không muốn có chuyện thay đổi. Phần đông những người trong gia đình đã quen mắt quen mũi nên không nhận biết có đống rác, và họ cũng không có khái niệm gì về vệ sinh cần thiết. 

Tuy vậy tôi không chủ trương trục xuất gia đình đó ra khỏi xóm hay cấm không cho họ sản xuất và chứa rác trong sân nhà họ (ngay cả nếu được). 

Tôi cũng không cho rằng tôi có trách nhiệm quét dọn đống rác đó. 

Tôi không ngại lên tiếng vì tôi cho rằng một vài người trong gia đình đó có thể có khả năng nhìn thấy sự hiện hữu của đống rác và thấu hiểu được quan niệm vệ sinh cần thiết. Đống rác có lẽ vẫn sẽ luôn luôn còn đó nhưng may ra ít bớt được một vài người xả rác hơn.

Tôi không ngại lên tiếng vì tôi cho rằng nếu chỉ một vài người trong xóm nhìn thấy sự hiện hữu của đống rác và thấu hiểu được quan niệm vệ sinh cần thiết thì may ra họ sẽ không làm những chuyện tương tự trong sân nhà họ.

Tuy nhiên, như đã nói, tôi chỉ là một người ngoại cuộc. Nếu người ta tiếp tục xả rác hay tạo thêm ra những đống rác mới nữa trong xóm thì cũng không ảnh hưởng trực tiếp đến tôi. Cùng lắm nó chỉ chướng mắt mỗi khi tôi đi ngang qua thôi. Tôi không sống trong xóm đó.

Bài 76: Thoái Hóa


Tôi không biết có Phật nào "thoái hóa" hay không nhưng tôi đã thấy có rất nhiều tăng như vậy, kể cả những người có tên tuổi như Nhất Hạnh, Thanh Từ, v.v.

Những người nầy bằt đầu với một ý niệm tu học và phát triển đạo pháp rất lý tưởng. Sau khi họ "thành công" thì họ thay đổi.

Thật ra thì rất khó cưỡng lại những cám dỗ đi kèm với sự thành công trong trường hợp nầy. Cứ tưởng tượng được mọi người ra vào khúm núm chấp tay vái lạy, một điều "Bẩm Thầy" hai điều "Thưa Thầy", nói gì cũng có người cung kính nghe, bảo gì cũng có người vâng dạ, đi đâu cũng được hầu hạ cung phụng, chăm lo săn sóc. Và những chuyện nầy xảy ra mỗi ngày năm nầy tháng kia như vậy thì trách chi cái Ngã của những ông thầy đó không dần dần to lớn ra đủ để nuốt mất đi những lý tưởng ban đầu của họ.

Tôi thấy tận mắt điều nầy nhiều lần, nhiều nơi, nhiều thầy: Phật tử đến cúng dường thì thầy ngồi trên ghế trong khi Phật tử quỳ mọp trước mặt lạy 3 lạy trước khi dâng tiền cúng dường bằng 2 tay đưa cao ngang mày. Và tiền nầy là phụ trội cho riêng thầy ("để Thầy tiêu dùng") ngoài tiền đã cúng dường vào thùng phước sương cho chùa.

Tôi chỉ trích thầy chùa ngang hàng với chỉ trích Phật tử. Thầy chùa đáng lẽ ra công việc và trách nhiệm của họ là giảng dạy con đường và nếp sống của Thích Ca để làm gương tốt cho Phật tử noi theo thì lại để cho cái Ngã, và cái Tham trong nhiều trường hợp, của mình đứng án mất lối. Còn Phật tử vì ngu dốt và lười biếng nên chỉ biết nhắm mắt nghe theo những thầy chùa loại nầy (miễn là họ có tước vị Hòa Thượng hay Đại Đức là đủ) và vô tình "làm hư" tăng sư cũng như dung dưỡng vô số điều tàn tệ (kể cả mê tín dị đoan) trong một hệ thống triết lý đáng lẽ là "tiến bộ" và hữu ích.

Đó là lý do tại sao tôi thường phê bình cái gọi là Phật Giáo hiện hành bằng lời lẽ nghiêm khắc. Theo nhận xét của tôi, cái Phật Giáo hiện hành chỉ là một cái chợ mà phần đông các chùa chiềng đều là những cửa hàng treo đầu heo bán thịt chó. Họ dựa lên danh nghĩa và triết lý của Thích Ca để truyền bá một thứ tôn giáo bịp bợm và độc hại. Và càng đông người ham thích các loại hàng nầy thì các cửa hàng và cái chợ nầy càng ngày càng phát triển lớn mạnh.

Bài 75: Giải Thoát hay Giác Ngộ


"Giải thoát" hay "giác ngộ" không phải là một trạng thái vỉnh cửu một khi đã đạt đến là sẽ không bao giờ tan biến. "Giải thoát" hay "giác ngộ" chỉ là một trạng thái của tâm thức. Và tâm thức của mỗi người thay đổi với thời gian, với hoàn cảnh, trình độ trí tuệ, v.v. của người đó. 
 
Những từ như "Tây Phương Cực Lạc" hay "Niết Bàn" làm cho người ta nghĩ đây là một "cõi" nào đó mà sau khi họ tu hành chăm chỉ thì sẽ vào được và rồi sẽ ở đó mãi mãi tận hưởng.

Có người so sánh "giác ngộ" giống như chèo thuyền ngược nước: Nếu ngưng chèo thì sẽ bị trôi thụt lùi lại, nếu tiếp tục chèo thì hoặc sẽ tiếp tục tiến tới xa hơn hoặc ít nhất giữ được vị trí hiện tại.

Vì vậy, dù đã diệt được khổ rồi thì trạng thái đó cũng không vĩnh viễn. Thả trôi theo giòng nước rất dễ dàng so với chèo ngược giòng.

Bài 74: Một Phật Giáo phi tín ngưỡng, phi tôn giáo (tiếp theo)

Một khái niệm thịnh hành nhất trong Phật Giáo mà Thích Ca đã tránh đề cập đến khi còn sinh tiền là “Tây Phương Cực Lạc” (hay “Niết Bàn”).

Đại đa số Phật tử tin rằng nếu họ siêng năng tụng kinh, làm việc phước thì sau khi chết họ sẽ được vào Tây Phương Cực Lạc. Cái cứu cánh và chân lý “đoạn diệt Khổ” của Thích Ca đã bị hoán chuyển ra thành cứu cánh và chân lý “chinh phục sự Chết”. Bản năng sinh tồn tự nhiên của con người từ khai thiên lập địa luôn luôn thu hút người ta tìm đủ mọi cách để tự thuyết phục rằng họ không hoàn toàn bị hũy diệt sau khi chết. Điều nầy có thể thấy trong hầu như tất cả tôn giáo. Phật tử do đó đã thay đổi chủ đích “làm sao để đoạn diệt Khổ ở đời nầy” ra thành “làm sao được vào Tây Phương Cực Lạc sau khi chết” một cách dễ dàng và thoải mái.

(Khái niệm “thiện” liên quan mật thiết với khái niệm “Tây Phương Cực Lạc” trong Phật Giáo, cũng như trong nhiều tôn giáo khác. Làm thiện sẽ được vào Tây Phương Cực Lạc, làm ác sẽ bị trở lại đầu thai trong vòng đau khổ của thế gian; hay tệ hơn nữa sẽ bị đày đọa ở những cõi địa ngục u tối. Khái niệm “thiện” được mọi người đều công nhận là “tốt”, là “nên làm”, là “nên xảy ra”. Khái niệm “Tây Phương Cực Lạc” do đó được vô tình củng cố thêm. Tâm thức của con người có khuynh hướng đồng hóa những sự việc liên quan hay tương tự với nhau. Vì công nhận “thiện” là “tốt”, người ta chấp nhận những lời dạy trong kinh sách về Tây Phương Cực Lạc một cách sẵn sàng hơn.)

Hai khái niệm thịnh hành khác trong Phật Giáo nhưng không nằm trong cứu cánh của Thích Ca là “Luân Hồi” và “đầu thai”. Nếu chấp nhận là Thích Ca lúc sinh tiền tránh không trả lời các câu hỏi về vấn đề siêu nhiên thì cũng cần chấp nhận rằng ông cũng đã không giảng dạy về quan niệm “Luân Hồi” và “đầu thai”. Trong Tứ Diệu Đế không có chi tiết nào, dù trực tiếp hay gián tiếp, đề cập về các quan niệm nầy.

Khi đã chú trọng vào “làm sao để đến Tây Phương Cực Lạc sau khi chết” hay “kiếp sau sẽ là gì”, người ta dễ bị phân tâm và không còn chú trọng đến “làm sao để đoạn diệt Khổ ở đời nầy” nữa. Đây là lý do chính tại sao Thích Ca không trả lời những câu hỏi về siêu nhiên của đệ tử khi ông còn sống. Lý do thứ hai có thể là vì trả lời xác nhận cũng như trả lời phủ nhận đều không hoàn toàn cả: xác nhận thế giới siêu nhiên là chỉ dựa vào sự mong mỏi và sự sợ hãi của tâm thức khi phản ứng theo bản năng sinh tồn; phủ nhận thế giới siêu nhiên là chỉ dựa trên nhận thức hạn hẹp và thiếu sót của ngũ quan.Và cũng rất có thể là vì ông không biết câu trả lời vì ngôn ngữ nhân loại không đủ để diễn tả những gì tâm thức và ngũ quan họ cho đến bây giờ chưa thể cảm nhận được. Nhưng điều nầy cho thấy rằng ông ít nhất đã thành thật với chính mình, và với học trò của ông.

Có người còn cho rằng ngay cả quan niệm thịnh hành “nghiệp phước” và “nhân quả” cũng không nằm trong những gì Thích Ca lúc sinh tiền đã dạy. Tuy trong Bát Chánh Đạo có dạy hành giả phải chú trọng vào “chánh nghiệp” nhưng vẫn có thể tranh luận rằng quan niệm “nghiệp” của Thích Ca chỉ có ý nghĩa thực tế chớ không phải huyền bí như Phật tử ngày nay nghĩ. “Thực tế” thí dụ như “ăn ở hiền lành với mọi người thì thường dễ tạo ra một môi trường sống hiền lành trong đó nhiều người cũng sẽ ăn ở hiền lành với những người khác chung quanh, kể cả với mình”. Tuy vậy, quan niệm “nghiệp” thực tế nầy rất có thể cũng đã bị biến đổi với thời gian trở thành siêu nhiên. Và quan niệm “nhân quả” cũng có thể được tranh luận tương tự.

Quan niệm “nghiệp phước” và “nhân quả” trong Phật Giáo hiện hành còn được biến cải để bao gồm thêm những nguyên nhân và hệ quả không liên quan đến nhau. Thí dụ ở trên (“ăn ở hiền lành với người khác sẽ được người khác ăn ở hiền lành với mình”) là một niềm tin mà nguyên nhân và hệ quả có liên quan với nhau. Quan niệm “tụng kinh để được phước” là một niềm tin mà nguyên nhân không có gì liên quan với hệ quả. Tin rằng hành động “tụng kinh” dẫn đến kết quả “được chuyện tốt lành xảy ra cho họ trong tương lai” cũng tương đồng với tin rằng đọc một câu chú hay đốt một lá bùa gì đó sẽ làm thay đổi những gì xảy ra trong cuộc đời của mình hay của một người khác. (Và cũng tương đồng với việc tin rằng những câu viết bâng quơ trong quẻ số ngày đầu năm có thể tiên đoán những gì sẽ xảy ra trong suốt 12 tháng sau đó, cũng như vô số các mê tín dị đoan khác xảy ra thường trực trong các chùa chiềng hiện nay). Tương tự, Tứ Diệu Đế không hề nói gì, trực tiếp hay gián tiếp, về các vấn đề nầy.

Tại sao có người coi quan niệm trình bày ở đây là một “Phật Giáo không tín ngưỡng, không tôn giáo”?

Chữ “tín ngưỡng” ở đây cần hiểu là liên quan đến những gì được coi là thuộc về thế giới siêu hình, thiêng liêng, huyền bí. Không nhìn nhận “Tây Phương Cực Lạc”, “đầu thai”, “Luân Hồi”, “nghiệp phước”, “nhân quả”, v.v. là không có tín ngưỡng.

Khi đã không còn nhìn nhận “Tây Phương Cực Lạc”, “đầu thai” và “Luân Hồi” thì không còn gì để mong đợi trong “kiếp sau” nữa. Sự mong mỏi được đạt Niết Bàn hay đến Tây Phương Cực Lạc là một cái Tham vĩ đại án ngữ trước mắt của hành giả. Cũng giống như một người đứng áp mặt sát vào một bức tường; bức tường sẽ trở thành quá lớn, chu vi của nó nằm hẳn bên ngoài phạm vi của nhãn quang nên người đó sẽ không còn nhận thấy là có bức tường trước mặt họ nữa. Khi bước lùi lại xa khỏi bức tường đó thì nó không còn lớn đủ để che hết tầm nhìn của hành giả nữa. Khi không còn nhìn nhận “Tây Phương Cực Lạc”, “đầu thai” và “Luân Hồi” thì tâm thức của hành giả sẽ chỉ chú trọng vào một mục tiêu duy nhất có thể đạt được trong đời sống hiện tại: Diệt Khổ.

Không còn lo nghĩ về “nhân quả”, “phước nghiệp” thì khi làm điều thiện sẽ không còn vì “để có phước” (và để “việc tốt lành sẽ xảy ra cho mình”, để “kiếp sau được đầu thai thành người sang tốt”, để “khi chết được vào Tây Phương Cực Lạc”, v.v.) nữa. Tất cả những điều trên cũng là một cái Tham lớn. Như tôi đã có lần nói: Đạo đức thật sự là đạo đức xuất phát từ trách nhiệm tự nguyện của tri thức cá nhân. Nếu bị ép buộc dù trực tiếp (thí dụ: “làm điều ác sẽ tạo ra nghiệp chướng đời sau”) hay gián tiếp (thí dụ: “làm việc thiện sẽ gặp việc thiện trả lại”) thì cái gọi là “đạo đức” đó chỉ là những trao đổi với mục tiêu vụ lợi và do đó vô ý nghĩa. Ngoài “vô ý nghĩa”, quan điểm trên còn tạo ra một ngả rẽ tách rời hành giả ra khỏi con đường Tứ Diệu Đế.

Nếu không còn các yếu tố thiêng liêng, huyền bí trên thì người ta không còn phải lo sợ vô cớ không cần thiết nữa. Niết Bàn hay Địa Ngục sẽ chỉ là những chuyện kể cho vui tai. Chỉ có đời sống hiện tại là có ý nghĩa, bắt đầu từ lúc nó bắt đầu và chấm dứt bằng sự Chết. Tự nhiên và hiển nhiên. Nếu đã chấp nhận được sự Chết là một điều hiển nhiên thì hành giả sẽ không còn phải mong lo tìm kiếm cách để che đậy cái sự thật đó bằng những ảo ảnh vô tưởng nữa. Tuy không ai có thể chinh phục được sự Chết, nhưng nếu nhìn nhận sự Chết là một phần tự nhiên của đời sống thì rất có thể hành giả sẽ chinh phục được sự sợ hãi về cái Chết.

(Nếu đã chấp nhận, và hằng nhớ mỗi giây phút trong đời, rằng sự Chết sẽ xảy đến cho bất cứ ai bất cứ lúc nào thì tự nhiên mỗi hơi thở sẽ rất ngọt ngào, mỗi cử động bình thường của cơ thể sẽ là mỗi nỗi sung sướng, mỗi buổi sáng thức dậy sẽ đẹp tuyệt vời, mỗi ngày trôi qua trong đời là một kỳ quan đáng tận hưởng, và mỗi muộn phiền lo lắng trong cuộc sống hàng ngày tự dưng sẽ trở thành không còn đáng để muộn phiền lo lắng nữa. Và đó, theo tôi là một phần lớn của Cực Lạc.)

Chữ “tôn giáo” ở đây cần được hiểu là “tôn giáo bị chi phối và điều hành bởi các tổ chức của tăng lữ”.

“Không tôn giáo” có nghĩa là không bị chi phối bởi tổ chức tăng lữ và do đó không bị ảnh hưởng bởi niềm tin sẵn có của họ. Mỗi tông phái có một lối tu riêng; mỗi tông phái đều cho lối tu của họ là hay nhất, mau lẹ nhất, “thật” nhất. Nhiều chùa, nhiều sư tăng pha trộn lý thuyết và thực hành của nhiều tông phái với nhau, kể cả những mê tín dị đoan thu gặt từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Mỗi “thầy” dạy và muốn đệ tử đi theo con đường của họ, và Phật tử rối mù làm theo như những con nộm vô thức. Nếu không còn bị chi phối bởi kinh sách và lời giảng giải của tổ chức tăng lữ hay Thầy nầy Tổ nọ, thì hành giả sẽ có dịp tự suy ngẫm để may ra có thể nhận thấy tại sao những con đường sẵn có mà họ đang đi theo không dẫn họ đến đâu cả.

Nói tóm lại, quan niệm “Phật Giáo không tín ngưỡng, không tôn giáo” chú tâm vào cái cốt tủy của Phật pháp là Tứ Diệu Đế và gạt bỏ những chi tiết rườm rà không cần thiết khác. Đối với hành giả mang quan niệm nầy, triết lý Phật Giáo tự nhiên giản dị và dễ hiểu hơn nhiều.

Giản dị và dễ hiểu không có nghĩa là dễ thực hành.

Và chắc chắn là không có nghĩa rằng ai cũng nhận thấy.

Bài 73: Một Phật Giáo phi tín ngưỡng, phi tôn giáo


Bài dưới đây để tóm lược tổng quát về quan niệm “một Phật Giáo phi tín ngưỡng, phi tôn giáo”.

Xin nhắc lại, tôi không coi tôi là một tín đồ Phật Giáo. Những gì tôi sắp trình bày dưới đây chỉ là quan điểm của riêng tôi.

Có một số nhóm phái tuy cũng mang cùng quan niệm nầy nhưng sự áp dụng và thực hành của họ chú trọng về mặt tâm linh nhiều hơn.


Thích Ca là một hoàng tử, ngày nọ nhìn thấy thế gian đầy đau khổ nên tâm trí rất ưu tư và bất an. Sau đó ông bỏ nhà ra đi tìm cách giải quyết mối ưu tư và bất an nầy.

Cứu cánh của Thích Ca rất giản dị và rõ ràng: Diệt Khổ.

Sau nhiều năm tu nghiệm, ông tìm ra một chân lý mà theo ông có thể giúp con người để diệt khổ.

Theo Thích Ca muốn diệt Khổ thì phải 1/ nhận ra những loại Khổ trên đời, rồi 2/ nhận ra nguyên nhân của các loại Khổ nầy, rồi 3/ nhận biết rằng con người sự Khổ có thể đoạn diệt được, và 4/ nhận biết cách thức để đoạn diệt sự Khổ.

Diệt Khổ là chân lý mà Thích Ca tìm ra và truyền dạy. Chân lý nầy được gọi là Tứ Diệu Đế như vừa kể trên.

Chấm hết.

Thích Ca không chủ trương và không dạy gì về “Tây Phương Cực Lạc” hay “đầu thai” hay “Luân Hồi” cả.

Quan niệm “giác ngộ” và “giải thoát” của Thích Ca chỉ để nói về “nhận ra được bản chất của sự Khổ trên đời nầy” và “đoạn diệt được sự Khổ”.

Lúc sinh thời khi đệ tử thắc mắc về “kiếp sau” hay những vấn đề siêu nhiên khác, Thích Ca không trả lời. Theo ông, những điều nầy không cần thiết mà còn làm Phật tử phân tâm trong việc suy nghiệm ra con đường “giác ngộ” và “giải thoát” vừa kể trên.

Thích Ca sống trong một xã hội của Ấn Độ hơn 2000 năm về trước lúc mà đại đa số đang chịu ảnh hưởng mạnh bởi Ấn Độ Giáo cũng như vô số các tôn giáo đầy mê tín dị đoan khác. Dân trí rất thấp. Tất cả những lời dạy của ông đều là truyền miệng.

Mấy trăm năm sau khi ông chết, nghĩa là gần 10 thế hệ truyền miệng với nhau, các đệ tử mới bắt đầu ghi chép lại các lời dạy của ông. Mấy trăm năm là một thời gian quá dài trong hoàn cảnh xã hội thời đó để các lời dạy nầy có thể được ghi chép lại một cách trung thực. Qua thời gian, các lời dạy của Thích Ca càng lúc càng bị ô nhiễm, pha trộn, chế biến, thêm thắc với đủ loại tư tưởng khác cũng như các chi tiết mê tín dị đoạn bởi chính các tăng sư khi soạn thảo kinh sách.

Mức độ ô nhiễm của mê tín dị đoan trong Phật Giáo có thể thấy được ở hầu hết mọi tầng lớp trong mọi tông phái.

Chuyện “hoàng hậu nằm mơ thấy voi trắng 9 ngà húc vào người rồi thọ thai” hay “mới sinh ra bước 7 bước, trên mỗi bước hiện ra một hoa sen, tuyên bố ‘thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn’” là một thí dụ điển hình. Câu chuyện nầy được ghi chép trong vô số kinh sách Phật Giáo không phải như là một truyền thuyết mà như là lịch sử đã thật sự xảy ra. Hiện tượng tín đồ thần thánh hóa việc giáo chủ của họ được sinh ra (trinh nữ thọ thai hay giao cấu bởi thần tiên) nầy có thể thấy được trong hầu hết mọi tôn giáo khác, nhất là những tôn giáo bị khống chế bởi mê tín dị đoan.

Chuyện địa ngục có quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa tra tấn hành hạ những kẻ ác độc khi còn sống ở thế gian là một thí dụ thịnh hành khác trong vô số kinh sách. Sự kiện Mục Kiền Liên hiếu thảo với mẹ được tuyên dương trong kinh sách song song với cuộc hành trình xuống địa ngục cứu mẹ như là một chuyện có thật giúp phần phổ biến và bồi đắp hình ảnh địa ngục kể trên thêm.

Có thể nói rằng chỉ trong vòng khoảng gần một thế kỷ nay mới bắt đầu có ít sách vở được phổ biến viết rằng những câu chuyện tương tự như trên chỉ là truyền thuyết chớ không phải có thật. Một số (rất) ít các sư tăng cũng bắt đầu giảng giải rằng những truyền thuyết loại trên chỉ có giá trị tượng trưng chớ không có giá trị lịch sử. Đây là một hiện tượng đáng kể đánh dấu bước ngoặc lớn trong quá trình tiến hóa của Phật Giáo. Thời điểm mà hiện tượng nầy xảy ra trùng hợp với thời điểm mà kiến thức khoa học phổ thông và khả năng phân tích suy luận của con người trong xã hội nói chung đã tiến triển đến một mức độ mà một số đủ lớn hành giả không thể nào chấp nhận các chuyện hoang đường trên là có thật nữa.

Lấy chuyện Thích Ca ngồi thiền định dưới gốc Bồ Đề 49 ngày trước khi giác ngộ làm một thí dụ. Hầu hết tất cả kinh sách Phật trong hơn 2000 năm nay đều ghi chép lại việc Ma Vương hiện đến quyến rũ và hăm dọa Thích Ca. Phật tử được giảng dạy và tin rằng chuyện đó đã xảy ra thật. Có 2 trường hợp: 1/ Có thể là Thích Ca đã kể lại cho đệ tử nghe về những cám dỗ và sợ hãi đã xảy ra trong tâm tưởng ông trong 49 ngày ấy bằng một ngôn ngữ rất thực tế; tuy vậy khi các đệ tử soạn thảo kinh sách ra thì tự họ thêu dệt các chi tiết huyền hoặc vào. 2/ Cũng có thể là Thích Ca đã dùng những từ ngữ đầy màu sắc thích hợp thời bấy giờ để làm cho những đệ tử ông có thể hiểu được ông muốn nói gì; và sau đó thì họ lại tin là những câu chuyện màu sắc đó có thật. Dù gì đi nữa thì các tác giả của vô số kinh sách chính thức của Phật Giáo đã ghi chép lại các chuyện trên như là sự thật vì chính họ cũng đã được giảng dạy và tin như vậy. Như đã nói, chỉ đến gần đây thì ý tưởng cho rằng các câu chuyện trên chỉ có tính cách “truyền thuyết” hay “có giá trị tượng trưng” (thay vì là “sự thật”) mới được phổ biến.

Vài Phật tử khi đọc đến đây chắc sẽ nghĩ rằng thời nay chỉ có kẻ dốt nát và mê tín dị đoan mới tin là các truyền thuyết trên có thật, và chắc sẽ không khỏi thầm hãnh diện rằng họ không thuộc vào dạng nầy. Những người đó có thể không biết rằng đa số Phật tử hiện nay vẫn tin, hay ít nhất bán tín bán nghi, rằng các chuyện trên là “có thể có thật”. Mức độ “có thật” nầy cao hay thấp bao nhiêu tùy vào kiến thức phổ thông và khả năng phân tích, lý luận thực tế của từng người.

Những người đó cũng quên rằng có thể ngay chính họ cũng đang tin tưởng và thực hành một số điều mà Thích Ca là giáo chủ của họ khi sinh thời đã cương quyết và kiên trì tránh xa.    


(còn tiếp)

Bài 72: Quán cơm chay

Có lần nọ tôi đi vào một quán cơm chay tên "Thanh Tịnh" hay "An Lạc" gì đó tôi quên rồi; không phải để ăn mà là để gặp một người quen.

Người chủ là một ni cô không già không trẻ, mặt mũi sáng sủa lanh lợi. Cách bày trí trong quán không cũ không mới, không có gì đặc biệt đáng nói. Trong quán có khoảng mười mấy bàn, hơn phân nửa đang có khách ngồi ăn. Trên bức tường gần giữa quán có một bàn thờ Phật, mấy cây nhang điện sáng rực gần như lấn áp cả hai cây nến cũng bằng bóng đèn điện đỏ.

Trong thời gian ngắn tôi ở đó, ni cô chủ quán ra chào hỏi và trò chuyện với tôi. Khi nói về các món ăn, cô giới thiệu:

"Các món ăn nầy ở đây, anh thấy không, làm rất công phu giống y như thật. Có nhiều món tôi bảo đảm anh nhìn vào nhưng sẽ không phân biệt được là thật hay giả".

Tôi hỏi: "Thật hay giả thế nào?".

Cô nhìn tôi, có vẻ hơi ngạc nhiên: "Thí dụ như thịt heo quay có phần da, phần mỡ, nhất là phần nạt chẳng những nhìn giống như thật mà khi nhai vào cũng dai dai như từng sớ thịt thật. Thịt gà xé phai, đùi vịt nướng, chã cá chiên và bò kho là những món đặc biệt nổi tiếng của quán nầy".

Tôi mĩm cười: "Cô phải khéo tay lắm mới làm được như vậy".

Nét mặt ni cô rạng rỡ lên: "Đúng vậy. Đây là nghề bí truyền không phải ai cũng học được".

Rồi cô gật gật đầu: "Các món ăn ở đây không có hành hay tỏi gì cả, anh đừng lo".

Tôi đoán là cô đang nói về việc người ăn chay thường cữ ăn hành hẹ tỏi nén vì những món nầy có chất kích thích dễ làm người ta nóng nảy. Tuy vậy tôi vẫn hỏi: "Tại sao vậy cô?"

Cô nheo mắt: "Ăn hành và tỏi thì niệm chú sẽ không linh".

Bài 71: Ba Mươi Bẩy Phẩm Trợ Đạo

Hành giả cần nhận thấy rằng Niết Bàn, Địa Ngục, Tây Phương Cực Lạc, ma quỷ, đầu thai, luân hồi, nhân quả, phù phép, thần chú, v.v. chỉ là những khái niệm huyễn hoặc vô căn cứ và không cần thiết…


Ba mươi bẩy phẩm trợ đạo là những phương cách chính để đoạn diệt đau khổ, phiền lụy trong Phật Giáo.

Không có chỗ nào trong 37 phẩm trợ đạo dạy về Niết Bàn, Địa Ngục, Tây Phương Cực Lạc, ma quỷ, đầu thai, luân hồi, phù phép, thần chú, v.v. cả (ngoại trừ trong “Bát Chánh Đạo” có đề cập đến khái niệm “nghiệp” trong “chánh nghiệp”).

Nếu vậy thì tại sao Phật tử lại chế biến ra những thứ nầy rồi lại ngụy biện rằng chúng là những “phương tiện” cần thiết để giúp họ tu hành?

Bài 70: Đạo Lý Tiểu Long

Hỏi: Có lần anh nói nhân sinh quan của anh chịu ảnh hưởng nhiều bởi Phật Giáo. Nhiều bao nhiêu?

Đáp: Nhân sinh quan của tôi chịu ảnh hưởng bởi một số lý thuyết Phật Giáo. Nhiều hay ít là tùy mỗi người cho rằng những lý thuyết nầy có “là” hay “của” Phật Giáo hay không.

Hỏi: Theo anh thì có nhiều đủ để gọi anh là một dạng Phật tử hay không?

Đáp: Tôi chắc chắn một điều: tôi không nằm trong cái gọi là Phật Giáo chúng ta thấy ngày nay. Tôi biết có một nhóm (rất nhỏ) những người có nhân sinh quan rất tương tự như tôi và họ xem họ là Phật tử. Tôi không xem tôi là Phật tử. Khi bị hỏi theo đạo gì thì tôi thường nói đùa rằng tôi theo đạo Lý Tiểu Long.

Hỏi: Đạo Lý Tiểu Long?

Đáp: Triết lý của Lý Tiểu Long khi sáng lập môn võ của ông nói chung là 1/Lấy “vô biên giới” làm biên giới của mình, và 2/ Chọn lựa và giữ những gì thích hợp, loại bỏ những gì không thích hợp với mình. Tôi tuy chịu ảnh hưởng bởi một số lý thuyết Phật Giáo nhưng đồng thời tôi cũng cảm thấy một số lý thuyết khác, và nhiều thứ trong lãnh vực thực hành, của Phật Giáo không thích hợp với tôi. Vì vậy tôi không coi tôi là một Phật tử.

Hỏi: “Vô biên giới” có nghĩa là quan điểm của anh có thể phát xuất từ bất cứ hệ thống triết lý nào? 

Đáp: Đúng vậy. Tôi không giới hạn tôi chỉ đọc kinh Phật hay Kinh Thánh hay bất cứ tài liệu hay sách vỡ gì bất kể chúng tuyên dương hay đả kích một hệ thống triết lý nào. Tôi dùng sự phán xét dựa trên kinh nghiệm và kiến thức của tôi để lựa chọn những gì cần thu nhận và loại bỏ những gì không thích hợp. Tín đồ (tự họ) không cho phép họ có được sự tự do nầy. Họ không thể mở mang được tầm nhìn của họ vì khi đứng trước bất cứ tư tưởng nào mới lạ thì họ sẽ phản ứng “nhưng trong kinh ABC nói khác, do đó tôi không thể chấp nhận tư tưởng nầy được”.

Hỏi: “Vô biên giới” có nghĩa là quan điểm của anh cũng thay đổi với thời gian?

Đáp: Đúng vậy. Cái gì không thay đổi với thời gian?

Hỏi: Cái gì là “thích hợp”? Cái gì là “không thích hợp”?

Đáp: Ở mỗi thời điểm, hoàn cảnh của mỗi người sẽ mỗi khác nhau. Ở mỗi hoàn cảnh, cái gì “thích hợp” hay “không thích hợp” sẽ tự dưng hiễn nhiên đối với mỗi người. Tuy vậy, một người nằm trong gông cùm của tín ngưỡng sẽ không có sự tự do lựa chọn để đi theo con đường thích hợp với mình. Một số tín đồ Công Giáo hiểu tôi muốn nói gì ở đây: họ từ nhỏ đã bị nhồi nhét vào đầu những gì tôn giáo họ cho là “tội lỗi” mặc dù bản năng tự nhiên và sự suy luận bình thường của họ luôn luôn ngầm phản kháng là “vô lý”. Tuy tín đồ Phật Giáo thường không bị ràng buột tương tự bởi giáo điều, những người suốt đời tự trùm đội tấm chăn mê tín dị đoan trên đầu mình cũng không có sự tự do nầy (và họ không hề hay biết).

Hỏi: Nhưng “tự do” như vậy thì làm sao bảo đảm được đạo đức?

Đáp: Đạo đức thật sự là đạo đức xuất phát từ trách nhiệm tự nguyện của tri thức cá nhân. Nếu bị ép buộc dù trực tiếp (thí dụ: “làm điều ác sẽ tạo ra nghiệp chướng đời sau”) hay gián tiếp (thí dụ: “làm việc thiện sẽ gặp việc thiện trả lại”) thì cái gọi là “đạo đức” đó chỉ là những trao đổi với mục tiêu vụ lợi và do đó vô ý nghĩa.

Hỏi: Anh nói có một nhóm nhỏ những người có nhân sinh quan rất tương tự anh và họ xem họ là Phật tử, trong khi đó anh thì không. Anh khác với họ những gì?

Đáp: Về quan điểm nói chung thì tôi không khác họ nhiều lắm. Về hình thức thì tôi không xem Thích Ca là giáo chủ giống như họ; và theo tôi thì Thích Ca (nếu hiện diện) cũng sẽ không quan tâm đến việc tôi (hay bất kỳ ai khác) có tôn thờ ông là giáo chủ hay không. Điều đáng kể duy nhất đối với ông ấy họa chăng là người ta có đi đúng theo con đường mà ông đã bỏ công ra chỉ dạy hay không. Ngoài ra tôi cũng không cạo đầu mặc áo tu như những người trên mặc dù nhiều khi tôi thấy việc đó cũng có cái lợi riêng của nó.

Hỏi: Việc cạo đầu mặc áo tu có lợi gì?

Đáp: Có lợi ở chỗ nhiều người sẽ tôn trọng, kính nễ anh hơn và do đó sẽ có khuynh hướng không chống đối những gì anh phát biểu ngay cả nếu lời phát biểu đó có đi ngược lại phần nào với đức tin của họ. Trên đời, chiếc áo có thể không làm nên thầy tu nhưng hầu như chắc chắn là chiếc áo tu có thể làm cho nhiều người nễ sợ.

Hỏi: Anh còn khác nhóm người trên ở điểm gì nữa?

Đáp: Một điểm khác nhau khá rõ ràng giữa tôi với những người nầy là họ thường không chủ trương chỉ trích hay phê bình công khai những niềm tín ngưỡng hay những tôn giáo khác.

Hỏi: Tại sao có sự khác biệt nầy?

Đáp: Có thể vì họ xem việc quảng bá những điều “tốt” trong lập trường của họ quan trọng hơn việc quảng bá những điều “xấu” trong lập trường của người khác. Có thể vì họ cho rằng “kể xấu” về người khác là một điều không đẹp, không lịch sự và dễ gây ra phiền hà. Có thể vì họ không muốn gây ra ác cảm với người khác trong khi họ đang nỗ lực muốn phổ biến những tư tưởng của họ sâu rộng. Những tư tưởng trong trường phái của họ đã và đang gặp nhiều chỉ trích từ những người tự gọi là Phật tử rồi cho nên gây ra thêm ác cảm là một điều không có lợi.

Hỏi: Còn anh thì sao?

Đáp: Chủ trương của tôi là khi nói về một hệ thống tư tưởng thì cần phải nêu lên trung thực tất cả những mặt “xấu” và mặt “tốt” nếu có của nó. Nếu chỉ phơi bài bộ mặt “tốt” và che dấu (hay phản đối không cho người khác nói về) bộ mặt “xấu” của nó thì đó là một sự thiếu sót; và trong nhiều trường hợp là một hành vi giả dối, thiếu thành thật với người khác và với chính mình. Hơn nữa, tôi không quan tâm đến việc thuyết phục ai hết về những tư tưởng của tôi nên tôi không lo ngại đến việc gây ra ác cảm với người khác.

Hỏi: Anh không lo ngại đến việc gây ác cảm với người khác?

Đáp: Về mặt phát biểu quan điểm nói chung, tôi không có gì để bán hay để biếu tặng cho nên tôi không lo ngại việc ai thương hay ghét tôi. Tuy vậy, về mặt thực tế khi giao dịch thật sự ngoài đời thì thật ra tôi không khác gì nhóm người nầy mấy. Ai lại không ngại gây ác cảm mặt đối mặt với người khác? Tôi có một lợi thế là tôi không phải bàn luận về các vấn đề nầy dưới tên tuổi thật của tôi trong khi nhóm người trên phải thường xuyên trực diện trình thuyết và trao đổi với khán thính giả với nhiều lập trường và từ tầng lớp xã hội khác nhau.

Hỏi: Nhưng như thế không phải là anh hèn nhát khi không dám dùng tên tuổi thật của mình à?

Đáp: Thực tế là những người như tôi luôn luôn bị kỳ thị trong xã hội, không những bởi tín đồ Thiên Chúa Giáo (là một điều không có gì để ngạc nhiên) mà còn bởi những người tự xưng là Phật tử (và do đó đạo đức giả) nữa. Sự kỳ thị nầy làm sứt mẻ tình cảm giữa thân bằng quyến thuộc. Sự kỳ thị nầy còn có khi có ảnh hưởng nghiêm trọng đến công ăn việc làm cũng như vị thế xã hội của những người dám phổ biến những sự thật “khó nghe” như tôi. Sự kỳ thị nầy xảy ra thường xuyên và ở khắp mọi nơi nhưng ít người, nhất là tín đồ, chịu nhìn nhận hay đề cập đến. Tôn giáo và tín ngưỡng không phải là những vấn đề đứng đầu trong đời sống hàng ngày của tôi cho nên tôi không cần, và không muốn, phải “sinh nghề tử nghiệp” khi bàn luận về chúng. Đối với tôi nói chung thì bàn luận về tôn giáo và tín ngưỡng chỉ thuộc vào hàng “trà dư tửu hậu”. Theo Lý Tiểu Long thì “đừng tham chiến những trận không thể thắng được”.

Hỏi: Nếu anh cho rằng những tư tưởng của anh là hay đẹp thì tại sao anh không chủ trương thuyết phục người khác nghe theo?

Đáp: Cách giải thích sau đây của tôi nghe có thể rất kiêu ngạo, nhưng đó là một thực tế khó chối cãi. Ngoài rừng hoang có những loài thú chạy nhẩy dưới đất, có những loài thú bay lượn trên trời. Cố gắng làm cho một con thú dưới đất hiểu cái cảm giác và những gì thấy được từ trên trời cao là một điều mất thời giờ vô ích. Khi nào nó tự tiến hóa đến mức độ mọc cánh thì tự nó sẽ thấy và hiểu được.

Bài 69: Nhân Sinh Quan và Vũ Trụ Quan (tiếp theo)

Theo tôi thì hành giả cần từ bỏ hầu như toàn thể hệ thống tín ngưỡng trong Phật Giáo.

Mục tiêu tối hậu của Phật pháp nằm trong Tứ Diệu Đế. Hành giả cần nhận thấy rằng Niết Bàn, Địa Ngục, Tây Phương Cực Lạc, ma quỷ, đầu thai, luân hồi, nhân quả, phù phép, thần chú, v.v. chỉ là những khái niệm huyễn hoặc vô căn cứ và không cần thiết; các phương thức cúng bái, tụng niệm, nghi lễ chỉ là những hình thức rườm rà và vô ích. Chú trọng vào những khái niệm và phương thức nầy chỉ làm phân tâm hành giả trên con đường đi đến mục tiêu tối hậu của họ.

Có người cho rằng từ bỏ tín ngưỡng cũng như từ bỏ chiếc bè trước khi đi đến bờ sông bên kia. Họ cho rằng chiếc bè tín ngưỡng cung cấp một phương tiện cần thiết để những người chưa thấu hiểu Phật Giáo có cơ hội dần dần đi qua bên kia bờ sông. Nếu không thì những người nầy không có khả năng để nhảy liền một bước đến nơi họ cần đến.

Tôi không có vấn đề gì với chiếc bè. Tôi có vấn đề với sự bám víu khư khư vào chiếc bè như là cứu cánh tối hậu. Nếu không chịu, và không dám, buông bỏ chiếc bè đó ra sớm thì hành giả sẽ không bao giờ đến được bên kia bờ sông. Đời người rất ngắn ngủi, một ngày không xa thì hành giả và chiếc bè sẽ trôi theo dòng thời gian ra mất giữa biển khơi. Thích Ca chú trọng vào hiện tại và cuộc đời hiện có. Tôi cho rằng không có bằng chứng cho thấy cá thể tiếp tục hiện hữu sau khi chết. Những khái niệm như “tu hành để mai sau được vào Tây Phương Cực Lạc” là bỏ phí những gì có sẵn trong tay để ôm ấp ảo tưởng xa vời. Cơ hội bỏ phí nầy sẽ không bao giờ trở lại.

Có người cho rằng nếu không tin vào nghiệp phước, nhân quả thì hành động không còn có ý nghĩa và lý do để xảy ra nữa. Họ cho rằng nếu như vậy thì người ta không còn có lý do để làm việc thiện và việc thiện cũng không còn có ý nghĩa tốt đẹp của nó nữa.

Tôi cho rằng nếu làm việc thiện vì nghĩ đến nghiệp phước, nhân quả thì việc thiện đó không xuất phát từ lòng từ bi mà chỉ xuất phát từ lòng ích kỷ. Nếu như vậy thì cái đáng lẽ là việc thiện sẽ không còn có ý nghĩa tốt đẹp nữa.

Có người cho rằng nếu gạt bỏ tất cả những gì trong hệ thống tín ngưỡng của Phật Giáo thì Phật Giáo không còn là Phật Giáo nữa.

Tôi cho rằng Phật Giáo có còn là cái mà chúng ta gọi là Phật Giáo hay không cũng không là điều đáng quan tâm. Điều đáng chú trọng đến là mục tiêu chính của con đường mà Thích Ca đề xướng: nhận thức được sự khổ đau trong đời sống và phương cách để tiêu diệt sự khổ đau nầy. (Theo tôi thì “tiêu diệt” hơi quá chủ quan và “làm giảm thiểu” có lẽ thực tế hơn đối với đại đa số). Còn quan tâm đến việc bảo tồn cái tôn giáo gọi là Phật Giáo là còn ôm ấp chiếc bè tạm bợ mà quên mất mục tiêu chính là đi đến bờ tỉnh thức.

Theo tôi thì hầu như tất cả những hiện tượng và những khái niệm siêu nhiên đều là sản phẩm tưởng tượng và không quan trọng ngay cả nếu chúng có thật. Đối với tôi chỉ có khả năng nhận thức và suy luận bằng kinh nghiệm và kiến thức thực tế là có giá trị.

Có người cho rằng kiến thức và khả năng suy luận của con người rất giới hạn so với sự bao la của vũ trụ. Hoàn toàn đề cao kinh nghiệm thực tế và gạt bỏ đức tin về siêu nhiên là thiên về chủ nghĩa vật chất và kiêu ngạo quá đáng. Thái độ nầy làm hạ giá trị ít nhất là phần nào của triết lý Phật Giáo.

Tôi xác định rằng tôi chưa bao giờ gạt bỏ sự khả dĩ của các hiện tượng siêu nhiên. Đó là vì “tôi không biết”, và điều nầy khác hẳn với “tôi phủ nhận tất cả”. Trong khi các tôn giáo dựa vào các quan niệm huyễn hoặc vô căn cứ do họ tưởng tượng ra để khẳng định sự hiện hữu của những gì họ không biết rõ, tôi chỉ cho rằng cho đến khi kiến thức con người có thể chứng minh được các vấn đề nầy thì sự kiện chúng có thật hay không, và thật bao nhiêu, không quan trọng lắm. Những niềm tin trong tín ngưỡng do con người đặt ra bị giới hạn bởi kiến thức nhỏ hẹp của họ so với những bí ẩn bao la của vũ trụ và do đó vô nghĩa lý cũng như vô ích.

Có người cho rằng nếu từ bỏ khái niệm nghiệp phước mà chỉ dựa chuyện thiện ác vào sự nhận thức và trách nhiệm cá nhân thì xã hội có thể thoái hóa vào tình trạng hỗn loạn hay vô trật tự. Theo họ thì người ta phần đông chỉ chú trọng vào quyền lợi của họ, do đó xã hội cần có quy luật đạo đức rõ ràng cho mọi người cùng noi theo và phán quyết những gì là “đúng” hay “sai”.

Tôi hiểu được nỗi lo lắng bên trên. Tuy nhiên tôi cho rằng tôn giáo và tín ngưỡng không phải là những phương pháp đem lại đạo đức hữu hiệu như tín đồ nghĩ, nhất là với thái độ và tư tưởng của đại đa số tín đồ chúng ta thấy ngày nay. Phần lớn người ta thấy sự kiện họ là thành viên của một tôn giáo quan trọng hơn việc tôn giáo đó sẽ đưa họ đến đâu trên con đường tìm sự tỉnh thức. Những câu nói của tín đồ như “tôi sẽ chiến đấu để bảo vệ tôn giáo của tôi với bất cứ giá nào” mỗi khi có người phê phán đến tôn giáo của họ cho thấy quan điểm nầy. Hơn nữa, qua bao nhiêu ngàn năm nay con người lúc nào cũng có đủ loại tôn giáo tràn ngập trong đời sống tuy vậy mức độ “vô đạo đức” và hỗn loạn, vô trật tự trong xã hội nói chung vẫn không hề giảm sút. Tôi do đó cho rằng sự nhận thức thiện ác và trách nhiệm tự nguyện của mỗi cá nhân rất có thể sẽ hữu hiệu hơn nhiều trong phương diện nầy.

Có người cho rằng nếu không tin vào đầu thai, luân hồi thì đời sống ngắn ngủi nầy vô nghĩa quá vì như vậy thì tóm lại “con người chỉ sinh ra để đau khổ rồi chết”.

Tôi cho rằng đó là một cách nhìn của người tiêu cực. Trong khoản thời gian giữa sự sinh ra và sự chết, mỗi người có thể chinh phục được sự đau khổ và sự sợ hãi về cái cái chết để sống thật sự cho chính mình hơn. Đời sống quả là ngắn ngủi nhưng nếu một người cần phải tin có đầu thai và luân hồi để thấy đời sống họ có ý nghĩa thì họ đang không sống trọn vẹn và phí phạm đời sống hiện tại của họ.

Cái triết lý mà tôi chủ trương khuyến khích việc cảm nhận sự tuyệt vời của cái mong manh và hữu hạn của sự sống.

Bài 68: Nhân Sinh Quan và Vũ Trụ Quan


Hỏi: Anh nói nhân sinh quan và vũ trụ quan của anh chịu ảnh hưởng bởi triết lý Phật Giáo. Thế thì theo anh triết lý Phật Giáo là gì cũng như nhân sinh quan và vũ trụ quan của anh là gì?

Các hệ thống tôn giáo và nền tín ngưỡng chúng ta có ngày nay là sự tích lũy của các sản phẩm văn hóa và lịch sử. Con người tạo dựng lên những hệ thống tôn giáo và nền tín ngưỡng nầy từ ngàn xưa để đáp ứng với nỗi băn khoăn tối trọng của họ, và trong quá trình nầy họ đã trở thành nô lệ của chúng.

Nỗi băn khoăn tối trọng của con người là “Nếu sự chết không thể tránh được thì ý nghĩa và mục đích của sự sống là gì?”

Nỗi băn khoăn nầy vẫn chưa và có lẽ không bao giờ giải tỏa được. Tuy nhiên, kiến thức và môi trường sống của con người đã thay đổi rất nhiều trong vài thế kỷ gần đây; do đó các hệ thống tôn giáo và nền tín ngưỡng xưa cũ trên cũng cần nên thay đổi một cách thích ứng. 

Một trong những triết lý cơ bản của Phật Giáo cho rằng “tất cả mọi sự vật đều thay đổi, không có gì trường tồn”. Nếu còn tiếp tục bám víu vào những công thức cổ hủ của Phật Giáo mà cho rằng một tôn giáo không bao giờ thay đổi là đi ngược lại với triết lý nầy. Bám víu vào các hệ thống tín ngưỡng là đi lạc hướng ra khỏi con đường Phật pháp.

Mục tiêu của Phật pháp là nghi vấn. Trách nhiệm của mỗi Phật tử là nghi vấn và tiếp tục nghi vấn. Nghi vấn ở đây không có nghĩa là “hoang mang không biết làm gì” hay là ngu dốt. Nghi vấn ở đây có nghĩa là không chấp nhận vô điều kiện bất cứ điều gì trước khi chất vấn, khảo nghiệm tận tường.

Trong lãnh vực tâm linh chỉ có một sự thật duy nhất, đó là “Mỗi người chúng ta sinh ra một mình và sẽ chết một mình” và “Sự chết chắc chắn sẽ xảy ra bất cứ lúc nào đến bất cứ người nào”. Bám víu vào bất cứ hệ thống tín ngưỡng nào cũng không thể làm thay đổi được sự thật đó. Nhận thức và chấp nhận được sự thật nầy là điều kiện tối cần thiết của con đường giải thoát.

Đặt niềm tin vô điều kiện vào một hệ thống tín ngưỡng (hay một tăng sư) là trốn tránh trách nhiệm với chính mình bằng cách ẩn núp sao bức màn che chở của những quan niệm và thành kiến sẵn có.

Một trong những nguyên tắc thiền cổ điển liên quan đến 3 phần tử: mối tự tin, sự nghi vấn, và lòng dũng cảm. Tự tin rằng mỗi người có đủ khả năng và can đảm dùng những mối nghi vấn để tự dẫn họ đến sự tỉnh thức.

Tôi chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi triết lý Phật Giáo, đồng thời tôi không chấp nhận một số khái niệm cơ bản của Phật Giáo. Thí dụ như tôi xem Phước Nghiệp, Nhân Quả, Luân Hồi, Giải Thoát chỉ là những vấn đề thứ yếu. Tôi không chú trọng vào việc chúng có thật hay không (mặc dù theo tôi thì không có bằng chứng thực tế nào cho thấy chúng có thật). Chúng có thể cung cấp câu trả lời cho câu hỏi “chuyện gì xảy ra sau khi chết?” Tuy vậy, các câu trả lời loại nầy chỉ làm bế tắc quá trình nghi vấn cần thiết để đưa con người nhận thức được và chấp nhận sự thật.

Tôi cho rằng Thích Ca không phải là một nhân vật có huyền phép gì cả. Sự giác ngộ của ông không đem đến cho ông phép thần thông hay quyền lực siêu phàm gì cả. Khi giảng giải về sự giác ngộ cho các đệ tử, ông chỉ nói về sự tỉnh thức sau khi khám phá ra niềm tự do toàn hảo của trái tim và lý trí khỏi sự tham muốn. Do đó ông cho rằng không những ông mà bất cứ ai khác khi hiểu nhận được sự thật thì cũng có thể đạt đến sự giác ngộ nầy.

Tôi cho rằng sau nầy khi triết lý và phương cách dẫn đến sự giác ngộ của Thích Ca được hệ thống hóa thành cái gọi là Phật Giáo thì sự giác ngộ bị các đệ tử thần thánh hóa bằng cách thêu dệt những chi tiết huyền bí vào mọi lãnh vực của cuộc đời của ông. Khi Phật Giáo càng phát triển với thời gian thì đủ mọi khái niệm huyễn hoặc như Niết Bàn, Địa Ngục, Tây Phương Cực Lạc, ma quỷ, đầu thai, luân hồi, nhân quả, phù phép, thần chú, v.v. được những người xem là thông hiểu Phật pháp pha chế và tạo dựng thêm ra.

Tôi cho rằng thần thánh hóa ý niệm và phương cách giác ngộ của Thích Ca xuất phát từ lòng tham lam và ngu muội của con người. Và từ đó, những người tự gọi là Phật tử đã tiêu hủy cây cầu chính yếu trên con đường dẫn đến mục tiêu giải thoát tối hậu mà Thích Ca đã chỉ dẫn.

Theo lịch sử, Thích Ca luôn luôn từ chối trả lời các câu hỏi về thế giới siêu nhiên và khẳng định rằng ông chỉ giảng dạy về phương cách nhận diện và đoạn trừ đau khổ. Thích Ca cũng đề xướng rằng “Mỗi người cần phải theo đuổi sự phán đoán của mình cho đến hết khả năng của mình và không chấp nhận điều gì trừ khi nó được biện chứng rõ rệt”.Và “Mỗi người chịu trách nhiệm với chính họ về sự giác ngộ của mình”.

Tôi cho rằng triết lý mà Thích Ca đề xướng mang tính chất “bất khả tri”. “Bất khả tri” ở đây không có nghĩa là “con người không có đủ khả năng để nhận biết hay xác định được sự hiện hữu, hay không, của thượng đế”. Tính chất “bất khả tri” trong triết lý của Thích Ca xác định sự “Tôi không biết” và khuyến khích hành giả luôn luôn chất vấn và khảo nghiệm mọi vấn đề trong mọi lãnh vực của sự sống. Thái độ nầy cho phép hành giả chấp nhận sự hiện diện của những bí ẩn trong vũ trụ đồng thời tập trung để tìm hiểu và tận hưởng cuộc sống trong thực tế hiện tại.

Những triết lý nguyên thủy đề xướng bởi Thích Ca nầy đã bị tiêu hủy đi khi cái gọi là Phật Giáo được thành hình và càng ngày càng hệ thống hóa. 

Cái gọi là Phật Giáo hiện nay và những lý thuyết cũng như thực hành trong nền tín ngưỡng nầy là những chòi lá mà Phật tử dừng chân lại trú ẩn giữa đường mưa gió. Những chòi lá nầy êm ấm và tiện nghi đủ để hành giả quên hẳn mục đích của họ và không thấy rằng con đường duy nhất đi đến mục đích đó vẫn còn xa lắm.

(còn tiếp)