Bài 71: Ba Mươi Bẩy Phẩm Trợ Đạo

Hành giả cần nhận thấy rằng Niết Bàn, Địa Ngục, Tây Phương Cực Lạc, ma quỷ, đầu thai, luân hồi, nhân quả, phù phép, thần chú, v.v. chỉ là những khái niệm huyễn hoặc vô căn cứ và không cần thiết…


Ba mươi bẩy phẩm trợ đạo là những phương cách chính để đoạn diệt đau khổ, phiền lụy trong Phật Giáo.

Không có chỗ nào trong 37 phẩm trợ đạo dạy về Niết Bàn, Địa Ngục, Tây Phương Cực Lạc, ma quỷ, đầu thai, luân hồi, phù phép, thần chú, v.v. cả (ngoại trừ trong “Bát Chánh Đạo” có đề cập đến khái niệm “nghiệp” trong “chánh nghiệp”).

Nếu vậy thì tại sao Phật tử lại chế biến ra những thứ nầy rồi lại ngụy biện rằng chúng là những “phương tiện” cần thiết để giúp họ tu hành?

Bài 70: Đạo Lý Tiểu Long

Hỏi: Có lần anh nói nhân sinh quan của anh chịu ảnh hưởng nhiều bởi Phật Giáo. Nhiều bao nhiêu?

Đáp: Nhân sinh quan của tôi chịu ảnh hưởng bởi một số lý thuyết Phật Giáo. Nhiều hay ít là tùy mỗi người cho rằng những lý thuyết nầy có “là” hay “của” Phật Giáo hay không.

Hỏi: Theo anh thì có nhiều đủ để gọi anh là một dạng Phật tử hay không?

Đáp: Tôi chắc chắn một điều: tôi không nằm trong cái gọi là Phật Giáo chúng ta thấy ngày nay. Tôi biết có một nhóm (rất nhỏ) những người có nhân sinh quan rất tương tự như tôi và họ xem họ là Phật tử. Tôi không xem tôi là Phật tử. Khi bị hỏi theo đạo gì thì tôi thường nói đùa rằng tôi theo đạo Lý Tiểu Long.

Hỏi: Đạo Lý Tiểu Long?

Đáp: Triết lý của Lý Tiểu Long khi sáng lập môn võ của ông nói chung là 1/Lấy “vô biên giới” làm biên giới của mình, và 2/ Chọn lựa và giữ những gì thích hợp, loại bỏ những gì không thích hợp với mình. Tôi tuy chịu ảnh hưởng bởi một số lý thuyết Phật Giáo nhưng đồng thời tôi cũng cảm thấy một số lý thuyết khác, và nhiều thứ trong lãnh vực thực hành, của Phật Giáo không thích hợp với tôi. Vì vậy tôi không coi tôi là một Phật tử.

Hỏi: “Vô biên giới” có nghĩa là quan điểm của anh có thể phát xuất từ bất cứ hệ thống triết lý nào? 

Đáp: Đúng vậy. Tôi không giới hạn tôi chỉ đọc kinh Phật hay Kinh Thánh hay bất cứ tài liệu hay sách vỡ gì bất kể chúng tuyên dương hay đả kích một hệ thống triết lý nào. Tôi dùng sự phán xét dựa trên kinh nghiệm và kiến thức của tôi để lựa chọn những gì cần thu nhận và loại bỏ những gì không thích hợp. Tín đồ (tự họ) không cho phép họ có được sự tự do nầy. Họ không thể mở mang được tầm nhìn của họ vì khi đứng trước bất cứ tư tưởng nào mới lạ thì họ sẽ phản ứng “nhưng trong kinh ABC nói khác, do đó tôi không thể chấp nhận tư tưởng nầy được”.

Hỏi: “Vô biên giới” có nghĩa là quan điểm của anh cũng thay đổi với thời gian?

Đáp: Đúng vậy. Cái gì không thay đổi với thời gian?

Hỏi: Cái gì là “thích hợp”? Cái gì là “không thích hợp”?

Đáp: Ở mỗi thời điểm, hoàn cảnh của mỗi người sẽ mỗi khác nhau. Ở mỗi hoàn cảnh, cái gì “thích hợp” hay “không thích hợp” sẽ tự dưng hiễn nhiên đối với mỗi người. Tuy vậy, một người nằm trong gông cùm của tín ngưỡng sẽ không có sự tự do lựa chọn để đi theo con đường thích hợp với mình. Một số tín đồ Công Giáo hiểu tôi muốn nói gì ở đây: họ từ nhỏ đã bị nhồi nhét vào đầu những gì tôn giáo họ cho là “tội lỗi” mặc dù bản năng tự nhiên và sự suy luận bình thường của họ luôn luôn ngầm phản kháng là “vô lý”. Tuy tín đồ Phật Giáo thường không bị ràng buột tương tự bởi giáo điều, những người suốt đời tự trùm đội tấm chăn mê tín dị đoan trên đầu mình cũng không có sự tự do nầy (và họ không hề hay biết).

Hỏi: Nhưng “tự do” như vậy thì làm sao bảo đảm được đạo đức?

Đáp: Đạo đức thật sự là đạo đức xuất phát từ trách nhiệm tự nguyện của tri thức cá nhân. Nếu bị ép buộc dù trực tiếp (thí dụ: “làm điều ác sẽ tạo ra nghiệp chướng đời sau”) hay gián tiếp (thí dụ: “làm việc thiện sẽ gặp việc thiện trả lại”) thì cái gọi là “đạo đức” đó chỉ là những trao đổi với mục tiêu vụ lợi và do đó vô ý nghĩa.

Hỏi: Anh nói có một nhóm nhỏ những người có nhân sinh quan rất tương tự anh và họ xem họ là Phật tử, trong khi đó anh thì không. Anh khác với họ những gì?

Đáp: Về quan điểm nói chung thì tôi không khác họ nhiều lắm. Về hình thức thì tôi không xem Thích Ca là giáo chủ giống như họ; và theo tôi thì Thích Ca (nếu hiện diện) cũng sẽ không quan tâm đến việc tôi (hay bất kỳ ai khác) có tôn thờ ông là giáo chủ hay không. Điều đáng kể duy nhất đối với ông ấy họa chăng là người ta có đi đúng theo con đường mà ông đã bỏ công ra chỉ dạy hay không. Ngoài ra tôi cũng không cạo đầu mặc áo tu như những người trên mặc dù nhiều khi tôi thấy việc đó cũng có cái lợi riêng của nó.

Hỏi: Việc cạo đầu mặc áo tu có lợi gì?

Đáp: Có lợi ở chỗ nhiều người sẽ tôn trọng, kính nễ anh hơn và do đó sẽ có khuynh hướng không chống đối những gì anh phát biểu ngay cả nếu lời phát biểu đó có đi ngược lại phần nào với đức tin của họ. Trên đời, chiếc áo có thể không làm nên thầy tu nhưng hầu như chắc chắn là chiếc áo tu có thể làm cho nhiều người nễ sợ.

Hỏi: Anh còn khác nhóm người trên ở điểm gì nữa?

Đáp: Một điểm khác nhau khá rõ ràng giữa tôi với những người nầy là họ thường không chủ trương chỉ trích hay phê bình công khai những niềm tín ngưỡng hay những tôn giáo khác.

Hỏi: Tại sao có sự khác biệt nầy?

Đáp: Có thể vì họ xem việc quảng bá những điều “tốt” trong lập trường của họ quan trọng hơn việc quảng bá những điều “xấu” trong lập trường của người khác. Có thể vì họ cho rằng “kể xấu” về người khác là một điều không đẹp, không lịch sự và dễ gây ra phiền hà. Có thể vì họ không muốn gây ra ác cảm với người khác trong khi họ đang nỗ lực muốn phổ biến những tư tưởng của họ sâu rộng. Những tư tưởng trong trường phái của họ đã và đang gặp nhiều chỉ trích từ những người tự gọi là Phật tử rồi cho nên gây ra thêm ác cảm là một điều không có lợi.

Hỏi: Còn anh thì sao?

Đáp: Chủ trương của tôi là khi nói về một hệ thống tư tưởng thì cần phải nêu lên trung thực tất cả những mặt “xấu” và mặt “tốt” nếu có của nó. Nếu chỉ phơi bài bộ mặt “tốt” và che dấu (hay phản đối không cho người khác nói về) bộ mặt “xấu” của nó thì đó là một sự thiếu sót; và trong nhiều trường hợp là một hành vi giả dối, thiếu thành thật với người khác và với chính mình. Hơn nữa, tôi không quan tâm đến việc thuyết phục ai hết về những tư tưởng của tôi nên tôi không lo ngại đến việc gây ra ác cảm với người khác.

Hỏi: Anh không lo ngại đến việc gây ác cảm với người khác?

Đáp: Về mặt phát biểu quan điểm nói chung, tôi không có gì để bán hay để biếu tặng cho nên tôi không lo ngại việc ai thương hay ghét tôi. Tuy vậy, về mặt thực tế khi giao dịch thật sự ngoài đời thì thật ra tôi không khác gì nhóm người nầy mấy. Ai lại không ngại gây ác cảm mặt đối mặt với người khác? Tôi có một lợi thế là tôi không phải bàn luận về các vấn đề nầy dưới tên tuổi thật của tôi trong khi nhóm người trên phải thường xuyên trực diện trình thuyết và trao đổi với khán thính giả với nhiều lập trường và từ tầng lớp xã hội khác nhau.

Hỏi: Nhưng như thế không phải là anh hèn nhát khi không dám dùng tên tuổi thật của mình à?

Đáp: Thực tế là những người như tôi luôn luôn bị kỳ thị trong xã hội, không những bởi tín đồ Thiên Chúa Giáo (là một điều không có gì để ngạc nhiên) mà còn bởi những người tự xưng là Phật tử (và do đó đạo đức giả) nữa. Sự kỳ thị nầy làm sứt mẻ tình cảm giữa thân bằng quyến thuộc. Sự kỳ thị nầy còn có khi có ảnh hưởng nghiêm trọng đến công ăn việc làm cũng như vị thế xã hội của những người dám phổ biến những sự thật “khó nghe” như tôi. Sự kỳ thị nầy xảy ra thường xuyên và ở khắp mọi nơi nhưng ít người, nhất là tín đồ, chịu nhìn nhận hay đề cập đến. Tôn giáo và tín ngưỡng không phải là những vấn đề đứng đầu trong đời sống hàng ngày của tôi cho nên tôi không cần, và không muốn, phải “sinh nghề tử nghiệp” khi bàn luận về chúng. Đối với tôi nói chung thì bàn luận về tôn giáo và tín ngưỡng chỉ thuộc vào hàng “trà dư tửu hậu”. Theo Lý Tiểu Long thì “đừng tham chiến những trận không thể thắng được”.

Hỏi: Nếu anh cho rằng những tư tưởng của anh là hay đẹp thì tại sao anh không chủ trương thuyết phục người khác nghe theo?

Đáp: Cách giải thích sau đây của tôi nghe có thể rất kiêu ngạo, nhưng đó là một thực tế khó chối cãi. Ngoài rừng hoang có những loài thú chạy nhẩy dưới đất, có những loài thú bay lượn trên trời. Cố gắng làm cho một con thú dưới đất hiểu cái cảm giác và những gì thấy được từ trên trời cao là một điều mất thời giờ vô ích. Khi nào nó tự tiến hóa đến mức độ mọc cánh thì tự nó sẽ thấy và hiểu được.

Bài 69: Nhân Sinh Quan và Vũ Trụ Quan (tiếp theo)

Theo tôi thì hành giả cần từ bỏ hầu như toàn thể hệ thống tín ngưỡng trong Phật Giáo.

Mục tiêu tối hậu của Phật pháp nằm trong Tứ Diệu Đế. Hành giả cần nhận thấy rằng Niết Bàn, Địa Ngục, Tây Phương Cực Lạc, ma quỷ, đầu thai, luân hồi, nhân quả, phù phép, thần chú, v.v. chỉ là những khái niệm huyễn hoặc vô căn cứ và không cần thiết; các phương thức cúng bái, tụng niệm, nghi lễ chỉ là những hình thức rườm rà và vô ích. Chú trọng vào những khái niệm và phương thức nầy chỉ làm phân tâm hành giả trên con đường đi đến mục tiêu tối hậu của họ.

Có người cho rằng từ bỏ tín ngưỡng cũng như từ bỏ chiếc bè trước khi đi đến bờ sông bên kia. Họ cho rằng chiếc bè tín ngưỡng cung cấp một phương tiện cần thiết để những người chưa thấu hiểu Phật Giáo có cơ hội dần dần đi qua bên kia bờ sông. Nếu không thì những người nầy không có khả năng để nhảy liền một bước đến nơi họ cần đến.

Tôi không có vấn đề gì với chiếc bè. Tôi có vấn đề với sự bám víu khư khư vào chiếc bè như là cứu cánh tối hậu. Nếu không chịu, và không dám, buông bỏ chiếc bè đó ra sớm thì hành giả sẽ không bao giờ đến được bên kia bờ sông. Đời người rất ngắn ngủi, một ngày không xa thì hành giả và chiếc bè sẽ trôi theo dòng thời gian ra mất giữa biển khơi. Thích Ca chú trọng vào hiện tại và cuộc đời hiện có. Tôi cho rằng không có bằng chứng cho thấy cá thể tiếp tục hiện hữu sau khi chết. Những khái niệm như “tu hành để mai sau được vào Tây Phương Cực Lạc” là bỏ phí những gì có sẵn trong tay để ôm ấp ảo tưởng xa vời. Cơ hội bỏ phí nầy sẽ không bao giờ trở lại.

Có người cho rằng nếu không tin vào nghiệp phước, nhân quả thì hành động không còn có ý nghĩa và lý do để xảy ra nữa. Họ cho rằng nếu như vậy thì người ta không còn có lý do để làm việc thiện và việc thiện cũng không còn có ý nghĩa tốt đẹp của nó nữa.

Tôi cho rằng nếu làm việc thiện vì nghĩ đến nghiệp phước, nhân quả thì việc thiện đó không xuất phát từ lòng từ bi mà chỉ xuất phát từ lòng ích kỷ. Nếu như vậy thì cái đáng lẽ là việc thiện sẽ không còn có ý nghĩa tốt đẹp nữa.

Có người cho rằng nếu gạt bỏ tất cả những gì trong hệ thống tín ngưỡng của Phật Giáo thì Phật Giáo không còn là Phật Giáo nữa.

Tôi cho rằng Phật Giáo có còn là cái mà chúng ta gọi là Phật Giáo hay không cũng không là điều đáng quan tâm. Điều đáng chú trọng đến là mục tiêu chính của con đường mà Thích Ca đề xướng: nhận thức được sự khổ đau trong đời sống và phương cách để tiêu diệt sự khổ đau nầy. (Theo tôi thì “tiêu diệt” hơi quá chủ quan và “làm giảm thiểu” có lẽ thực tế hơn đối với đại đa số). Còn quan tâm đến việc bảo tồn cái tôn giáo gọi là Phật Giáo là còn ôm ấp chiếc bè tạm bợ mà quên mất mục tiêu chính là đi đến bờ tỉnh thức.

Theo tôi thì hầu như tất cả những hiện tượng và những khái niệm siêu nhiên đều là sản phẩm tưởng tượng và không quan trọng ngay cả nếu chúng có thật. Đối với tôi chỉ có khả năng nhận thức và suy luận bằng kinh nghiệm và kiến thức thực tế là có giá trị.

Có người cho rằng kiến thức và khả năng suy luận của con người rất giới hạn so với sự bao la của vũ trụ. Hoàn toàn đề cao kinh nghiệm thực tế và gạt bỏ đức tin về siêu nhiên là thiên về chủ nghĩa vật chất và kiêu ngạo quá đáng. Thái độ nầy làm hạ giá trị ít nhất là phần nào của triết lý Phật Giáo.

Tôi xác định rằng tôi chưa bao giờ gạt bỏ sự khả dĩ của các hiện tượng siêu nhiên. Đó là vì “tôi không biết”, và điều nầy khác hẳn với “tôi phủ nhận tất cả”. Trong khi các tôn giáo dựa vào các quan niệm huyễn hoặc vô căn cứ do họ tưởng tượng ra để khẳng định sự hiện hữu của những gì họ không biết rõ, tôi chỉ cho rằng cho đến khi kiến thức con người có thể chứng minh được các vấn đề nầy thì sự kiện chúng có thật hay không, và thật bao nhiêu, không quan trọng lắm. Những niềm tin trong tín ngưỡng do con người đặt ra bị giới hạn bởi kiến thức nhỏ hẹp của họ so với những bí ẩn bao la của vũ trụ và do đó vô nghĩa lý cũng như vô ích.

Có người cho rằng nếu từ bỏ khái niệm nghiệp phước mà chỉ dựa chuyện thiện ác vào sự nhận thức và trách nhiệm cá nhân thì xã hội có thể thoái hóa vào tình trạng hỗn loạn hay vô trật tự. Theo họ thì người ta phần đông chỉ chú trọng vào quyền lợi của họ, do đó xã hội cần có quy luật đạo đức rõ ràng cho mọi người cùng noi theo và phán quyết những gì là “đúng” hay “sai”.

Tôi hiểu được nỗi lo lắng bên trên. Tuy nhiên tôi cho rằng tôn giáo và tín ngưỡng không phải là những phương pháp đem lại đạo đức hữu hiệu như tín đồ nghĩ, nhất là với thái độ và tư tưởng của đại đa số tín đồ chúng ta thấy ngày nay. Phần lớn người ta thấy sự kiện họ là thành viên của một tôn giáo quan trọng hơn việc tôn giáo đó sẽ đưa họ đến đâu trên con đường tìm sự tỉnh thức. Những câu nói của tín đồ như “tôi sẽ chiến đấu để bảo vệ tôn giáo của tôi với bất cứ giá nào” mỗi khi có người phê phán đến tôn giáo của họ cho thấy quan điểm nầy. Hơn nữa, qua bao nhiêu ngàn năm nay con người lúc nào cũng có đủ loại tôn giáo tràn ngập trong đời sống tuy vậy mức độ “vô đạo đức” và hỗn loạn, vô trật tự trong xã hội nói chung vẫn không hề giảm sút. Tôi do đó cho rằng sự nhận thức thiện ác và trách nhiệm tự nguyện của mỗi cá nhân rất có thể sẽ hữu hiệu hơn nhiều trong phương diện nầy.

Có người cho rằng nếu không tin vào đầu thai, luân hồi thì đời sống ngắn ngủi nầy vô nghĩa quá vì như vậy thì tóm lại “con người chỉ sinh ra để đau khổ rồi chết”.

Tôi cho rằng đó là một cách nhìn của người tiêu cực. Trong khoản thời gian giữa sự sinh ra và sự chết, mỗi người có thể chinh phục được sự đau khổ và sự sợ hãi về cái cái chết để sống thật sự cho chính mình hơn. Đời sống quả là ngắn ngủi nhưng nếu một người cần phải tin có đầu thai và luân hồi để thấy đời sống họ có ý nghĩa thì họ đang không sống trọn vẹn và phí phạm đời sống hiện tại của họ.

Cái triết lý mà tôi chủ trương khuyến khích việc cảm nhận sự tuyệt vời của cái mong manh và hữu hạn của sự sống.

Bài 68: Nhân Sinh Quan và Vũ Trụ Quan


Hỏi: Anh nói nhân sinh quan và vũ trụ quan của anh chịu ảnh hưởng bởi triết lý Phật Giáo. Thế thì theo anh triết lý Phật Giáo là gì cũng như nhân sinh quan và vũ trụ quan của anh là gì?

Các hệ thống tôn giáo và nền tín ngưỡng chúng ta có ngày nay là sự tích lũy của các sản phẩm văn hóa và lịch sử. Con người tạo dựng lên những hệ thống tôn giáo và nền tín ngưỡng nầy từ ngàn xưa để đáp ứng với nỗi băn khoăn tối trọng của họ, và trong quá trình nầy họ đã trở thành nô lệ của chúng.

Nỗi băn khoăn tối trọng của con người là “Nếu sự chết không thể tránh được thì ý nghĩa và mục đích của sự sống là gì?”

Nỗi băn khoăn nầy vẫn chưa và có lẽ không bao giờ giải tỏa được. Tuy nhiên, kiến thức và môi trường sống của con người đã thay đổi rất nhiều trong vài thế kỷ gần đây; do đó các hệ thống tôn giáo và nền tín ngưỡng xưa cũ trên cũng cần nên thay đổi một cách thích ứng. 

Một trong những triết lý cơ bản của Phật Giáo cho rằng “tất cả mọi sự vật đều thay đổi, không có gì trường tồn”. Nếu còn tiếp tục bám víu vào những công thức cổ hủ của Phật Giáo mà cho rằng một tôn giáo không bao giờ thay đổi là đi ngược lại với triết lý nầy. Bám víu vào các hệ thống tín ngưỡng là đi lạc hướng ra khỏi con đường Phật pháp.

Mục tiêu của Phật pháp là nghi vấn. Trách nhiệm của mỗi Phật tử là nghi vấn và tiếp tục nghi vấn. Nghi vấn ở đây không có nghĩa là “hoang mang không biết làm gì” hay là ngu dốt. Nghi vấn ở đây có nghĩa là không chấp nhận vô điều kiện bất cứ điều gì trước khi chất vấn, khảo nghiệm tận tường.

Trong lãnh vực tâm linh chỉ có một sự thật duy nhất, đó là “Mỗi người chúng ta sinh ra một mình và sẽ chết một mình” và “Sự chết chắc chắn sẽ xảy ra bất cứ lúc nào đến bất cứ người nào”. Bám víu vào bất cứ hệ thống tín ngưỡng nào cũng không thể làm thay đổi được sự thật đó. Nhận thức và chấp nhận được sự thật nầy là điều kiện tối cần thiết của con đường giải thoát.

Đặt niềm tin vô điều kiện vào một hệ thống tín ngưỡng (hay một tăng sư) là trốn tránh trách nhiệm với chính mình bằng cách ẩn núp sao bức màn che chở của những quan niệm và thành kiến sẵn có.

Một trong những nguyên tắc thiền cổ điển liên quan đến 3 phần tử: mối tự tin, sự nghi vấn, và lòng dũng cảm. Tự tin rằng mỗi người có đủ khả năng và can đảm dùng những mối nghi vấn để tự dẫn họ đến sự tỉnh thức.

Tôi chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi triết lý Phật Giáo, đồng thời tôi không chấp nhận một số khái niệm cơ bản của Phật Giáo. Thí dụ như tôi xem Phước Nghiệp, Nhân Quả, Luân Hồi, Giải Thoát chỉ là những vấn đề thứ yếu. Tôi không chú trọng vào việc chúng có thật hay không (mặc dù theo tôi thì không có bằng chứng thực tế nào cho thấy chúng có thật). Chúng có thể cung cấp câu trả lời cho câu hỏi “chuyện gì xảy ra sau khi chết?” Tuy vậy, các câu trả lời loại nầy chỉ làm bế tắc quá trình nghi vấn cần thiết để đưa con người nhận thức được và chấp nhận sự thật.

Tôi cho rằng Thích Ca không phải là một nhân vật có huyền phép gì cả. Sự giác ngộ của ông không đem đến cho ông phép thần thông hay quyền lực siêu phàm gì cả. Khi giảng giải về sự giác ngộ cho các đệ tử, ông chỉ nói về sự tỉnh thức sau khi khám phá ra niềm tự do toàn hảo của trái tim và lý trí khỏi sự tham muốn. Do đó ông cho rằng không những ông mà bất cứ ai khác khi hiểu nhận được sự thật thì cũng có thể đạt đến sự giác ngộ nầy.

Tôi cho rằng sau nầy khi triết lý và phương cách dẫn đến sự giác ngộ của Thích Ca được hệ thống hóa thành cái gọi là Phật Giáo thì sự giác ngộ bị các đệ tử thần thánh hóa bằng cách thêu dệt những chi tiết huyền bí vào mọi lãnh vực của cuộc đời của ông. Khi Phật Giáo càng phát triển với thời gian thì đủ mọi khái niệm huyễn hoặc như Niết Bàn, Địa Ngục, Tây Phương Cực Lạc, ma quỷ, đầu thai, luân hồi, nhân quả, phù phép, thần chú, v.v. được những người xem là thông hiểu Phật pháp pha chế và tạo dựng thêm ra.

Tôi cho rằng thần thánh hóa ý niệm và phương cách giác ngộ của Thích Ca xuất phát từ lòng tham lam và ngu muội của con người. Và từ đó, những người tự gọi là Phật tử đã tiêu hủy cây cầu chính yếu trên con đường dẫn đến mục tiêu giải thoát tối hậu mà Thích Ca đã chỉ dẫn.

Theo lịch sử, Thích Ca luôn luôn từ chối trả lời các câu hỏi về thế giới siêu nhiên và khẳng định rằng ông chỉ giảng dạy về phương cách nhận diện và đoạn trừ đau khổ. Thích Ca cũng đề xướng rằng “Mỗi người cần phải theo đuổi sự phán đoán của mình cho đến hết khả năng của mình và không chấp nhận điều gì trừ khi nó được biện chứng rõ rệt”.Và “Mỗi người chịu trách nhiệm với chính họ về sự giác ngộ của mình”.

Tôi cho rằng triết lý mà Thích Ca đề xướng mang tính chất “bất khả tri”. “Bất khả tri” ở đây không có nghĩa là “con người không có đủ khả năng để nhận biết hay xác định được sự hiện hữu, hay không, của thượng đế”. Tính chất “bất khả tri” trong triết lý của Thích Ca xác định sự “Tôi không biết” và khuyến khích hành giả luôn luôn chất vấn và khảo nghiệm mọi vấn đề trong mọi lãnh vực của sự sống. Thái độ nầy cho phép hành giả chấp nhận sự hiện diện của những bí ẩn trong vũ trụ đồng thời tập trung để tìm hiểu và tận hưởng cuộc sống trong thực tế hiện tại.

Những triết lý nguyên thủy đề xướng bởi Thích Ca nầy đã bị tiêu hủy đi khi cái gọi là Phật Giáo được thành hình và càng ngày càng hệ thống hóa. 

Cái gọi là Phật Giáo hiện nay và những lý thuyết cũng như thực hành trong nền tín ngưỡng nầy là những chòi lá mà Phật tử dừng chân lại trú ẩn giữa đường mưa gió. Những chòi lá nầy êm ấm và tiện nghi đủ để hành giả quên hẳn mục đích của họ và không thấy rằng con đường duy nhất đi đến mục đích đó vẫn còn xa lắm.

(còn tiếp)

Bài 67: Ảo Tưởng của Lòng Tham Lam và Sự Ngu Muội


Hỏi: Có người cho là anh quá khắc khe với những người tin có các đấng thiêng liêng phù hộ, cứu độ họ. Ngay cả nếu việc đó không có thật đi nữa thì niềm tin đó cũng giúp họ xoa dịu được đôi chút khổ đau. Điều đó không hại ai cả. Anh nghĩ sao?

Đáp: Thứ nhất, mỗi người đều có quyền tự do tin những gì họ muốn tin. Tôi không can dự vào chuyện đó. Những gì tôi viết chỉ phản ảnh việc tôi khắc khe với chính tôi về vấn đề nầy. Tôi cho rằng sự mong mỏi, và từ đó niềm tin tưởng, rằng có các đấng thiêng liêng cứu độ hay phù hộ xuất phát từ lòng tham lam và sự ngu muội của con người. Tôi không cho phép tôi tự lừa dối tôi với cái ảo tưởng đó. Nếu ai muốn làm chuyện đó, hay cảm thấy rằng tôi khắc khe với họ thì đó là vấn đề của họ, không phải của tôi.

Hỏi: Và thứ hai?

Đáp: Thứ hai, tôi đồng ý ảo tưởng đó có thể giúp người ta xoa dịu được đôi chút khổ đau và đem lại hy vọng. Tuy nhiên, nhiều người lợi dụng sự tham lam và ngu muội đó để bóc lột người khác. Và nhiều người vì sự tham lam và ngu muội đó dung dưỡng để người khác bóc lột họ, và bóc lột những người khác. Tôi chỉ muốn nói lên sự tệ hại phát xuất từ cái ảo tưởng nầy. Tôi không cho phép người khác lừa dối tôi. Tương tự, nếu ai để chuyện đó xảy ra cho họ, hay cảm thấy rằng tôi khắc khe với họ vì họ để chuyện đó xảy ra cho họ thì đó là vấn đề của họ, không phải của tôi.

Hỏi: Xin anh nói rõ thêm tại sao anh cho là “tham lam”?

Đáp: Muốn trường tồn sau khi chết là tham lam. Muốn có một huyền lực đặc biệt bảo bọc, che chở trong đời sống hàng ngày là tham lam.

Hỏi: Và tại sao là “ngu muội”?

Đáp: Vì tham lam nên tự lừa dối mình bằng những ảo tưởng vô căn cứ là ngu muội. Gạt bỏ khả năng suy luận hằng ngày để cho phép mình nghe theo những hứa hẹn hảo huyền là ngu muội. Tin rằng tất cả những gì trong kinh sách và từ tu sĩ là chân lý của vũ trụ và sự sống là ngu muội. Vì tham lam nên để người khác lường gạt, bốc lột là ngu muội. Vì tham lam (vì sợ tội, sợ không “thiện”) nên dung dưỡng những lường gạt, bốc lột nầy là ngu muội.

Hỏi: Anh muốn nói về tất cả tôn giáo?

Đáp: Những gì tôi nói ở trên về “ngu muội” có thể áp dụng cho tất cả tôn giáo. Về “tham lam”, tôi chỉ chú trọng về Phật Giáo.

Hỏi: Tại sao chỉ có Phật Giáo?

Đáp: Triết lý Phật Giáo cho rằng tu mà còn trông ngóng Tây Phương Cực Lạc, mà còn cầu khẩn Phật Trời cứu độ là còn động vọng, hay tham lam. (Đại đa số những người cho mình là Phật tử không nhận thức được điều nầy. Và rất nhiều người tuy biết nhưng vẫn không thể cưỡng lại sự cám dỗ mãnh liệt của nó.)

Hỏi: Còn Thiên Chúa Giáo thì sao?

Đáp: Triết lý Thiên Chúa Giáo dạy và đòi hỏi tín đồ phải quỳ lụy, thần phục thượng đế của họ với mục đích tối hậu là được vào thiên đàng vỉnh viển đời sau. Nói cách khác, trong trường hợp nầy, cái mà triết lý Phật Giáo cho là “tham lam” thì Thiên Chúa Giáo cho là “chân lý”.

Hỏi: Anh không tin vào việc nầy, như vậy có nghĩa là anh không còn tham lam và ngu muội?

Đáp: Dĩ nhiên là không. Ai cũng có những tham lam và ngu muội của họ, nếu không trong lãnh vực nầy thì cũng trong lãnh vực khác.

Hỏi: Tôi hiểu được tại sao anh không muốn thấy người ta lường gạt, bóc lột người khác. Nhưng nếu ảo tưởng đó có thể xoa dịu đau khổ và đem lại hy vọng thì tại sao anh không muốn cho chính anh?

Đáp: Như những người ghiền thuốc phiện, nhiều người chọn lựa sống trong ảo ảnh và dùng ảo ảnh để tạm thời xoa dịu đau khổ. Họ cho rằng đây là sự chọn lựa độc lập và sáng suốt của họ, họ không hề chịu ảnh hưởng của ai cả, họ không hề bị tẩy não bởi gia đình họ từ ấu thơ, v.v. Họ cảm thấy hạnh phúc khi áp dụng ảo ảnh vào đời sống thực tế bất kể rằng đời sống thực tế không hề thể hiện những ảo ảnh nầy. Tôi không phải là một trong những người đó.

Hỏi: Còn anh làm gì để có hy vọng và xoa dịu đau khổ?

Đáp: Một trong những sự kiện thực tế, thực sự nhưng lạnh lùng (đến độ tàn nhẫn) của vũ trụ là “sự sống của mỗi cá thể chỉ xảy ra và hiện hữu một lần mà thôi”. Nếu một người hiểu và chấp nhận được điều đó rồi thì họ sẽ nhìn sự sống và đời sống một cách khác hẳn. Một trong những sự thay đổi đó là họ sẽ quý trọng từng giây phút, từng sự vật đơn giản nhất trong đời sống chung quanh họ. Đồng thời, họ sẽ không còn bị bận tâm bởi những sự việc đã từng thường làm họ bận tâm. Quan điểm đó sẽ mang lại một sức mạnh và một cơ bản trong triết lý sống của họ mà không cần lệ thuộc vào những đấng thiêng liêng tưởng tượng nữa.

Hỏi: Anh cho rằng anh là một trong những người đó?

Đáp: Tôi nghĩ đó là mục tiêu tôi đang hướng đến.

Bài 66: Vài Lời về Đạt Lai Lạt Ma

“Hãy suy tư cẩn thận vì Tư tưởng sẽ biến thành Lời nói, Hãy ăn nói cẩn thận vì Lời nói sẽ biến thành Hành động, Hãy hành xử cẩn thận vì Hành động sẽ biến thành Thói quen, Hãy chú trọng Thói quen vì chúng hình thành Nhân cách, Hãy chú trọng Nhân cách vì nó hình thành Số mệnh, Và Số mệnh của anh sẽ là Cuộc đời của anh." … và … "Không có tôn giáo nào cao trọng hơn Sự Thật." (Đạt Lai Lạt Ma)


Đạt Lai Lạt Ma là một người hiểu biết sâu rộng và một nhà ngoại giao khôn khéo. Nói chung tôi không có vấn đề gì về lời ăn tiếng nói và hoạt động của ông.

Nếu thay thế chữ “số mệnh” bằng chữ “phong cách” trong đoạn ông nói ở trên “Hãy suy tư cẩn thận vì Tư tưởng sẽ biến thành Lời nói, Hãy ăn nói cẩn thận vì Lời nói sẽ biến thành Hành động, Hãy hành xử cẩn thận vì Hành động sẽ biến thành Thói quen, Hãy chú trọng Thói quen vì chúng hình thành Nhân cách, Hãy chú trọng Nhân cách vì nó hình thành Số mệnh, Và Số mệnh của anh sẽ là Cuộc đời của anh” thì đoạn nầy sẽ không khác những gì dạy trong các cuốn sách Công Dân Giáo Dục ngày xưa.

Sự khôn khéo của ông thể hiện qua những câu phát biểu không mang nặng hình sắc tôn giáo tương tự như trên. Vì vậy mặc dù không phải ai cũng chấp  nhận lý thuyết và thực hành của Phật Giáo Tây Tạng nhưng ít khi nào người ta có thể phản đối những gì ông nói.

Câu “Không có tôn giáo nào cao trọng hơn Sự Thật” cũng vậy, là một thông điệp thuộc dạng “không đề cao tôn giáo” rất êm tai cũng như rất chính xác. Tuy nhiên theo tôi, trừ phi ý nghĩa của chữ “Sự Thật” được xác định rõ ràng thì thông điệp nầy hầu như không có giá trị thực tế gì cả.

Nhất là khi nói về tín ngưỡng, tôn giáo nào cũng cho mình là Sự Thật. Đối với tín đồ thì tôn giáo của họ chính là Sự Thật. Do đó đối với tín đồ thì câu trên sẽ chỉ là “Không có tôn giáo nào cao trọng hơn tôn giáo của tôi”.

Và ngay cả nếu chữ “Sự Thật” đã được xác định thì cũng cần phải có sự tương đồng về ý tưởng giữa người nghe và người phát biểu. “Sự thật có biên giới”. Sự thật của một người không hẳn là sự thật của những người khác.


Bài 65: Vài Lời về Phật Giáo Tây Tạng


Phật Giáo Tây Tạng xuất phát từ cùng nguồn gốc với chi nhánh Mật Tông ở Việt Nam và Trung Hoa. Nhiều hành giả Thiền Tông cho rằng những phương thức bùa chú, phù phép trong Mật Tông nếu không là mê tín dị đoan thì cũng là sai lạc so với đường hướng giải thoát của Phật pháp. Hành giả Mật Tông trong khi đó cho rằng con đường họ đi tuy dựa lên nền tảng huyền bí nhưng thật ra triết lý và phương pháp hành trì của Mật tông cơ bản vẫn xây dựng theo tiến trình Giới-Ðịnh-Tuệ như tất cả mọi đường lối tu tập khác của Phật Giáo.

Phật Giáo Tây Tạng chú trọng nặng về huyền thuật. Những giai thoại về số mệnh tiền định và đầu thai của các thượng sư (Lạt Ma) của họ rất quan trọng và rất phổ biến. Bản tính tự nhiên của con người ai cũng dễ bị thu hút vào những chuyện lạ lùng huyền bí. Vì vậy đối với người ngoài thì những giai thoại nầy rất ly kỳ hấp dẫn và được nhiều người ngưỡng mộ.

Tôi không xác định hay phủ nhận mọi tình tiết trong các giai thoại loại nầy. Như đã nói, tôi không có đủ thời gian và phương tiện để nghiên cứu hay điều tra cặn kẻ về từng trường hợp để có thể phê bình vào chi tiết.

Tuy vậy, chủ trương chung của tôi là một hiện tượng càng huyền bí (và ly kỳ hấp dẫn) thì tôi càng nên cẩn thận trước khi chấp nhận nó. Trong công việc giao dịch làm ăn hàng ngày có câu "Nếu cái gì hay đẹp ngoài sức tưởng tượng thì nó thường chỉ là tưởng tượng". Có lẽ những người quan niệm "không nên dùng lý trí để xét đoán lãnh vực tín ngưỡng" sẽ không áp dụng câu nầy ở đây.

Trở lại một chút về sự khác biệt giữa Thiền Tông và Mật Tông, Phật Giáo là một tôn giáo chủ hòa do đó không có sự xung khắc trực diện giữa những cơ sở tổ chức (chùa chiềng) của 2 tông phái nầy. Thật ra có nhiều tu sĩ pha trộn lý thuyết của cả Thiền Tông và Mật Tông vào trong phương cách hành giảng của họ. Tuy vậy, sự khác biệt cơ bản giữa 2 tông phái lớn trong Phật giáo nầy luôn luôn được thể hiện rõ ràng và cho thấy rằng “con đường giải thoát” của Phật Giáo cũng chỉ là những gì mỗi cá nhân, hay mỗi nhóm Phật tử, diễn giải và đề xướng là "sự thật”.

Bài 64: Những câu hỏi không có câu trả lời


Tôi có một vài câu hỏi mà chưa ai bao giờ trả lời thỏa đáng cả.  

Nhân loại đã chứng kiến bao nhiêu tôn giáo và nền tín ngưỡng khác nhau. Tất cả những tôn giáo và nền tín ngưỡng nầy tôn thờ nhiều thượng đế khác nhau, diễn giải về vũ trụ nhiều cách khác nhau và đều quả quyết rằng chỉ có chân lý của họ là tuyệt đối và tối thượng. Vô số những tôn giáo và niềm tín ngưỡng nầy đã thành hình, thịnh vượng rồi tàn lụi. Những tôn giáo mà chúng ta hiện có ngày nay chỉ mới hiện diện trong khoảng vài ngàn năm nay mà thôi. Chỉ là một cái chớp mắt trong lịch sử con người.  

Các câu hỏi của tôi là:  

1/ Dựa vào dữ kiện trên, làm sao tín đồ của bất cứ tôn giáo nào có thể tin rằng niềm tín ngưỡng của họ là “thật”?  

2/ Và nếu họ cho là niềm tín ngưỡng của họ là “thật” hay “đúng” thì có phải họ cũng cho những niềm tín ngưỡng, những tôn giáo khác đều là “giả” và “sai”?  

3/ Nếu chỉ có thể có một tôn giáo “thật” và “đúng”, và chỉ một mà thôi, và nếu tất cả tôn giáo đều giành phần họ là “thật” và “đúng” thì chẳng phải là gần như chắc chắn tất cả đều “giả” và “sai” hay sao?  

Bài 63: Người Vô Thần trong Chiến Hào


Nhiều tín đồ nhắc đến câu “Không có kẻ vô thần nào ở dưới chiến hào cả” (“There are no atheists in foxholes”) khi thảo luận về “đức tin”.

Ý họ muốn nói là trong những hoàn cảnh hiểm nghèo, vô vọng thì con người mới thấy mình nhỏ bé, yếu đuối, bất lực và từ đó mới cầu khẩn Thượng Đế cứu giúp và mới tin là có Thượng Đế.

Câu nầy thật ra rất đúng đối với rất nhiều người. 

Tuy nhiên, câu trên không thể nào dùng để chứng minh rằng ý niệm “vô thần” là sai lầm hay người vô thần là nông cạn, yếu đuối cả.

Câu trên chỉ diễn tả một bản chất yếu đuối tự nhiên của con người. Khi đứng trước hiểm nguy, bản năng sinh tồn trong con người làm cho họ cần và muốn được bảo vệ, cứu giúp. Trong những trường hợp vô vọng, họ có khuynh hướng nghĩ đến cá thể siêu nhiên nào đó có quyền lực vô cùng vĩ đại hơn họ. 

Thật ra, câu trên chứng tỏ rằng ý niệm “Thượng Đế” (và từ đó, sự thành hình của tôn giáo) phát xuất từ sự sợ hãi mà ra.

Hitler đã từng nói với Giám Mục Michael von Faulhaber ở Bavaria (1936) rằng: “Người ta không thể hiện hữu không có niềm tin vào Thượng Đế. Các binh sĩ nằm bốn, năm ngày chịu đựng hỏa pháo nặng nề cần một sự chống chỏi bằng tôn giáo”.

“Một sự chống chỏi bằng tôn giáo”. Điều nầy cho thấy Hitler là một người rất tinh khôn khi đưa ra và dùng nhận xét trên trong việc quản lý tinh thần binh sĩ. Tuy nhiên, một niềm tin xuất phát từ sự sợ hãi chỉ là một dụng cụ được tạo ra do nhu cầu cần thiết. Nó không phải là một niềm tin xuất phát chân chính từ trái tim, nó không phải từ lý tưởng tâm linh cao quý. Một số người vô thần ví đức tin trong tôn giáo như là một cái nạng (để chống chỏi); nếu sự ví von đó có thích hợp thì có lẽ đây là một trường hợp mà nó có thể áp dụng xác thực nhất. Các tín đồ đáng lẽ không nên quảng bá sự so sánh đức tin của họ với một cái nạng (vì chính họ đang vô tình làm điều nầy khi nêu ra câu “không có kẻ vô thần trong chiến hào”).

Hơn nữa, câu trên không đúng với tất cả mọi người. Có rất nhiều trường hợp những tín đồ sùng đạo suốt đời cho đến một ngày nào đó lâm cảnh đau khổ cùng cực chợt tỉnh ngộ ra rằng nếu thật sự có Thượng Đế yêu thương bảo bọc họ như đã hứa hẹn thì họ đã chẳng nằm trong cảnh ngộ đó. Có những chiến binh sống sót sau các trận chiến kinh hoàng chợt thấy rằng không có Thượng Đế từ bi toàn năng nào lại có thể để cảnh chết chóc thê thảm chung quanh họ xảy ra. Những người nầy từ đó quẳng bỏ đi cái ảo tưởng về Thượng Đế mà họ đã ôm ấp suốt đời họ.

Khi nào có ai đưa ra câu “Không có kẻ vô thần nào ở dưới chiến hào cả” để tranh luận cho ý niệm “đức tin” thì có lẽ họ cần nên được nhắc rằng “Có những người không cần phải nằm dưới chiến hào mà vẫn suốt đời luôn luôn co ro kinh sợ”

Bài 62: Cầu Nguyện


Hỏi: Có câu nói “không có kẻ vô thần nào ở trong chiến hào cả”. Anh nghĩ sao? 

Đáp: Rất có thể đúng. Tôi có thể tưởng tượng được nỗi sợ hãi khủng khiếp của những người nằm trong chiến hào chịu đựng đạn pháo kích nổ tới tấp chung quanh họ.

Hỏi: Anh nghĩ nếu anh nằm trong hoàn cảnh đó thì anh cũng sẽ cầu Trời khẩn Phật hay không?

Đáp: Tôi không biết. Tôi chưa ở trong tình thế kinh khiếp cực độ như vậy. Tuy nhiên, nếu vì sợ hãi cùng cực mà tôi ngả qua cầu khẩn Trời Phật trong lúc đó để xin cứu mạng thì chẳng qua đó là vì phản xạ sinh tồn tự nhiên. Có thể trong lúc sợ hãi tột độ thì trí óc tôi cũng sẽ lý luận rằng “Nếu cầu khẩn có hiệu nghiệm dù xác suất nhỏ cách mấy cũng còn hơn không. Cứ cầu khẩn đi, không có hại gì cả”. Đây là lối lý luận của nhiều tín đồ, Phật Giáo cũng như Thiên Chúa Giáo.

Hỏi: Nếu sống sót thì sau đó anh sẽ nghĩ gì?

Đáp: Tôi nghĩ là tôi sẽ hỗ thẹn với chính tôi.

Hỏi: Tại sao?

Đáp: Tại vì 1/ Tôi đã làm một điều trái ngược lại với nguyên tắc và quan điểm sống của tôi, và 2/ Tôi biết điều tôi làm là vô ích.

Hỏi: Tại sao vô ích?

Đáp: Vô ích là vì nếu tôi chết thì rõ ràng là không ai cứu tôi cả. Còn nếu tôi sống sót thì tôi biết tôi cũng sẽ kết luận rằng đó rất có thể chỉ là một điều ngẫu nhiên mà thôi, bất kể xác xuất sống chết có chênh lệch bao nhiêu đi nữa. Qua cơn sợ hãi tột độ thì con người thường suy luận một cách chính chắn hơn. Và tôi biết rằng dù gì đi nữa thì tôi cũng không thể dựa vào sự kiện đó để tin là Trời Phật đã có cứu mạng tôi hay không.